Vào giai đoạn cam go nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trên chiến trường khói lửa miền Trung, một tiểu đoàn vận tải với hơn 600 cô gái tuổi chỉ vào độ mười sáu, đôi mươi được thành lập với nhiệm vụ gùi lương thực, đạn dược, cõng thương binh, mở đường và chống lầy để xe ôtô đi qua... đã làm nên bao huyền thoại sống trên các cung đường Trường Sơn. Với phương châm "Đạp 50 cân xuống đất, hất 50 cân sang bên, vì chiến trường mang lên một tạ" hay "Không tính khối lượng, không tính chỉ tiêu, có sức bao nhiêu cống hiến tất cả"..., chỉ trong 4 năm, đã có 5.019 tấn hàng được tiểu đoàn vận chuyển, trung bình mỗi nữ chiến sĩ đi bộ 600km/năm. Tiểu đoàn vận tải nữ 232 đã được quân và dân đất Quảng và chiến trường khu V gọi với cái tên rất đỗi dung dị: Tiểu đoàn bà Thao.
Kiện tướng Nguyễn Thị Huấn gùi hàng là khẩu pháo cao gấp đôi thân người cùng hai quả đạn nặng 125kg phục vụ Chiến dịch Chu Lai. |
"Kiện tướng hành lang"
Được Cục Hậu cần Quân khu V thành lập vào đầu năm 1986, Tiểu đoàn vận tải nữ 232 đảm nhận nhiệm vụ vận tải hàng, khiêng cõng thương binh. Thế nên, khắp các vùng rừng núi từ đường 9 Nam Lào vào đến Quảng Nam, Quảng Ngãi, Gia Lai, Kon Tum... nơi nào cũng in dấu chân và lán trại các chiến sĩ nữ của Tiểu đoàn bà Thao. Hình ảnh những cô gái trẻ măng với cái gùi cao hơn đầu, tay luôn chống nạnh để đi cho dễ, ngực lúc nào cũng căng ra vì gùi hàng sẽ còn mãi trong ký ức của nhiều người thuở ấy. Cùng với mức độ ngày càng ác liệt của chiến trường quân khu V và việc quân ta mở rộng các cuộc chiến công trên quy mô rộng lớn đã khiến khối lượng công việc mà tiểu đội vận tải nữ đảm nhận ngày càng lớn. Với khẩu hiệu "đi có, về có", lúc đi thì gùi hàng đến điểm giao hàng, khi về tiếp tục khiêng, cõng thương binh, công việc mà Tiểu đoàn bà Thao phải đảm nhiệm lúc ấy thật nặng nề, không thua kém gì nam giới. Những phương châm hành động của đội quân tóc dài một thời như: "Vai tăng cân, chân tăng chuyến", "Không để bộ đội ở chiến trường đói rét, thiếu lương thực, vũ khí súng đạn, không chuyển được hàng ra mặt trận là có lỗi với chiến sĩ" hay "Đạp 50 cân xuống đất, hất 50 cân sang bên, vì chiến trường mang lên một tạ" hay "Không tính khối lượng, không tính chỉ tiêu, có sức bao nhiêu cống hiến tất cả"... đã tạo nên những chiến sĩ nữ với đôi chân vạn dặm, "kiện tướng hành lang, gương mẫu, chân đồng, vai sắt".
Trong 4 năm thi hành nhiệm vụ ở Tiểu đoàn bà Thao, trung bình mỗi năm, Chính trị viên Đại đội phó Đại đội C2 Nguyễn Thị Huấn gùi khoảng 20 tấn hàng mỗi năm. Cô được đồng đội phong tặng danh hiệu kiện tướng gùi hàng "chân đồng, vai sắt" khi chỉ mới 17 - 18 tuổi. Dường như ở Tiểu đoàn bà Thao, hễ nhiệm vụ nào nặng nề nhất, Huấn cũng là người đảm nhận. Chính vì vậy, đây cũng là một trong số ít cô gái ở tiểu đoàn thường xuyên được ăn "nắm cơm kiện tướng", dùng để thưởng cho những nữ TNXP gùi hàng với số lượng lớn. Gọi là "nắm cơm kiện tướng", nhưng cũng chỉ nhỉnh hơn nắm cơm thường một tý và chủ yếu là sắn độn cơm. Trong rất nhiều lần gùi hàng cho bộ đội đánh giặc, bà nhớ nhất là chuyến gùi khẩu pháo 105 ly nặng hơn 100 kg vào năm 1969. Khi đó, tiểu đoàn có 4 đại đội, nhưng không có đại đội nào nhận bởi nó quá cồng kềnh và nặng gấp nhiều lần so với sức vóc của các cô gái trẻ. Được lãnh đạo tiểu đoàn rồi lãnh đạo đại đội động viên, Huấn xung phong nhận trọng trách ấy. Sau một đêm mất ngủ, trằn trọc suy nghĩ, cô gái 19 tuổi ấy đã nghĩ ra cách để gùi khẩu pháo có 3 chân: dùng tấm ván làm mặt phẳng để cột khẩu pháo vào rồi nhờ đồng đội khiêng lên vai. Đại đội trưởng C2 phải cử thêm 2 đồng đội đi theo Huấn để vừa làm nhiệm vụ phát quang đường rừng, vừa là chỗ để cô vịn khi leo dốc núi, dừng chân nghỉ. Bởi nếu cứ mỗi lần nghỉ mà tháo gỡ gùi hàng xuống thì khi đi tiếp, khó có thể nâng số hàng ấy lên được nữa. Cứ thế, suốt 4 ngày ròng rã đi, ăn và nghỉ trong tư thế đứng, cuối cùng Huấn cùng đồng đội đã giao được hàng đến đội vận tải nam tiếp tục vận chuyển ra chiến trường. Khi gùi hàng cao quá đầu người vừa tháo ra khỏi người, cũng là lúc cô cảm nhận được sự rã rời của cơ thể.
Cô Huấn |
Thế nhưng, lần gùi hàng kỷ lục nhất của kiện tướng Nguyễn Thị Huấn là lần vận chuyển vũ khí phục vụ cho chiến dịch tại Chu Lai vào năm 1970 đã được lịch sử chiến trường khu V ghi nhận. Lần đấy, Huấn được giao nhiệm vụ cõng 2 thân DKB, 1 đầu đạn DKB và 2 ngòi nổ với trọng lượng nặng 125 kg. Đi ròng rã nửa tháng trời, những lúc cô bị sốt, số hàng của cô không có ai gùi được, phải san cho 2 - 3 người gùi. Sau trận chiến ấy, cô được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất. Trước đó, Huấn đã được tặng 3 Huân chương Chiến công: 2 Nhất, 1 Nhì. Cô Nguyễn Thị Huấn tâm sự: “Mỗi ngày chỉ ăn có 2 nắm cơm, mà cũng chủ yếu là sắn độn cơm, vậy mà không hiểu bằng sức mạnh nào mà cô có mặt trên mặt đường gùi hàng 30/30 ngày. Mà chuyện gùi hàng gấp 2 - 3 lần trọng lượng cơ thể không phải là hiếm".
"Lính bà Thao trước sau như một"
Năm 1968, khi Cục Hậu cần Quân khu V thành lập Tiểu đoàn vận tải nữ 323, Phạm Thị Thao - Đại đội trưởng Tiểu đoàn Bắc Hải (Tổng đội Thanh niên xung phong Quảng Đà - Nguyễn Văn Trỗi) sang làm Tiểu đoàn trưởng, quản lý 4 đại đội vận tải, một tiểu đoàn bộ, một trạm xá và một đội sản xuất với hơn 600 chiến sĩ nữ. Nhận nhiệm vụ mới, lúc đấy, Phạm Thị Thao mới 18 tuổi, lại quản lý một đội ngũ chiến sĩ chỉ toàn là nữ, quân số đông gấp 10 lần so với thời còn ở TNXP nên ngoài niềm vinh dự còn là cảm giác hồi hộp, lo âu. Ngoài nhiệm vụ gùi hàng, cõng thương binh, mở đường và chống lầy để xe ôtô đi qua như bao chị em khác, cô gái Phạm Thị Thao lúc ấy còn phải kiểm tra, quán xuyến và làm công tác tư tưởng cho chị em. Trong đó, cái khó nhất vẫn là làm công tác tư tưởng, bởi mỗi người mỗi tính. Trong ký ức của những cô gái thuộc 232 ngày ấy, Tiểu đoàn trưởng Phạm Thị Thao bao giờ cũng cõng gùi hàng nặng từ 70 - 100 kg như bao chị em khác và luôn là người về sau cùng. Chính vì lúc nào cũng phải ưỡn ngực để có sức rướn để cõng hàng nên phần lớn chị em trong Tiểu đoàn bà Thao đều bị teo ngực. Câu nói "Lính bà Thao trước sau như một" là vừa thể hiện tính kiên trung, nhưng cũng còn vì lý do trên. Tiểu đoàn của bà còn được giao nhiệm vụ quan trọng, có khi gùi hàng quý về đồng bằng hoặc ra tiền tuyến. Vậy mà hàng chưa bao giờ bị mất.
Cô Thao |
Đến bây giờ, mỗi khi gặp lại nhau, các chị em trong tiểu đoàn còn nhắc đến vụ "ăn cua sống" để lót dạ dù đang gùi gạo trên lưng của chị Lê Thị Cúc - Đại đội trưởng C2. "Giờ nhớ lại cảnh tìm cua đá trong hóc để ăn, cô vẫn còn rùng mình! Thật ra, ban đầu cô nghĩ bụng, bắt cua đá về để nướng cho chị em ăn. Rồi trên đường đi, vì đói quá, thế là tự nhủ: "Thôi thì bẻ 1 cái càng ăn cho đỡ đói"... rồi ăn luôn cả con cua đá sống lúc nào không hay..." - cô Lê Thị Cúc cho biết. Nhớ lại những ký ức thời hoa lửa ấy, người "chị cả" C2 chợt ứa nước mắt: "Ngoài vũ khí, thuốc men, gạo, hạt giống, có khi chúng tôi còn gùi tiền, gùi đô la. Tất nhiên, chị em trong đơn vị không ai biết đó là hàng gì, chỉ biết đó là hàng quý. Vậy mà, chưa một lần nào bị suy suyển. Có nhiều lần khi giao gạo đến điểm tập kết, nhiều người ở nơi nhận hàng cứ ngạc nhiên sao gạo ghi trong sổ có ngần ấy, mà đến lúc nhận lại dôi ra không ít. Ai cũng thắc mắc. Còn chị em ở Tiểu đoàn thì biết. Bởi lẽ, trong quá trình vận chuyển, do gặp khí ẩm nên gạo nở ra. Mặc dù trên đường đi, bụng đói meo, nhưng chị em không ai tư túi, bớt xén gạo để ăn".
Không chỉ có việc gùi hàng, Phạm Thị Thao còn lãnh đạo hơn 600 chị em đi mở đường, chống lầy để xe ôtô qua. Có nhiều đêm vừa đi gùi hàng về lán trại, chưa kịp tắm rửa gì, nghe điện báo phải đi chống lầy, bà lại tất tả huy động chị em cùng ra mặt đường chặt cây làm cầu, rồi hò nhau đẩy xe trong đêm tối. Một trong những kỷ niệm mà bà nhớ nhất là lần đi mở đường gần địa phận đường 9 Nam Lào vào năm 1969. Sau khi đào hầm rộng để bỏ bộc phá xuống châm ngòi, ta-luy núi được hạ xuống, đất đá đổ ầm ào. Vừa lúc ấy, có một đơn vị bộ đội từ Bắc vào Nam đi ngang qua. Người đi cuối cùng của đoàn quân ấy không may bị rơi xuống vực sâu. Từ trên cao nhìn thấy vậy, Tiểu đoàn trưởng Thao không kịp suy nghĩ gì thêm, cứ thế lao theo. Đồng đội ở phía trên gào to: "Chị Thao ơi! Đừng! Rứa là chết đó!". Bà cứ thế lăn theo xuống vực và tìm cách kéo người chiến sĩ đó lên. Khi lên khỏi vực sâu, cô lấy bi-đông còn một ít nước đổ vào miệng người chiến sĩ. Một lát sau, anh tỉnh dậy hỏi: "Đơn vị tôi đâu rồi?", bà chỉ kịp chỉ tay về phía trước: "Đi cách đây không lâu lắm. Anh cứ đi thẳng là sẽ gặp". Chưa kịp hỏi tên nhau, họ đã vội chia tay, tiếp tục công việc của mình. Kể đến đây, bà chợt nheo đôi mắt đượm buồn, giọng đầy tiếc nuối: "Hồi ấy, vội vàng quá, quên không kịp hỏi tên người bộ đội ấy là gì. Chiến tranh mà, đâu phải như thời bình để mà có thời gian làm quen... Không biết người lính ấy giờ đây còn sống hay đã hy sinh?".
Cô Cúc |
Kỷ niệm nhớ nhất trong đời gùi tải hàng trên những cung đường Trường Sơn của cô Lê Thị Cúc là lần cõng thương binh Hoàng. So với các Đại đội khác, C2 do Cúc phụ trách chủ yếu là người quê ở Tiên Phước, Tam Kỳ. Con gái ở 2 vùng này khi ấy rất nhỏ bé. Lúc Đại đội của Cúc đến giao hàng và nhận cõng thương binh thì số thương binh có tạng người nhỏ con đã "bị"các đơn vị bạn khiêng cõng đi hết. Chỉ còn lại những thương binh hạng... nặng cân, trong đó có một thương binh tên Hoàng bị thương cụt chân, người rất to con. Số chị em đi cùng cô, ai cũng lắc đầu, không dám nhận lãnh vì ngại. Cuối cùng, Cúc cùng một đồng đội nhận nhiệm vụ khiêng lên cứ để chuyển ra Bắc chữa trị. Đường đi về khúc khuỷu gập ghềnh, dốc là dốc, chiếc cáng thương binh cứ đung đưa, lắc qua lắc về, nên di chuyển rất khó nhọc. Khi qua con suối lớn, do rong rêu mọc trên đá sỏi nhiều, nếu khiêng võng qua dễ ngã xuống nước, sẽ gây chấn thương cho thương binh. Cân nhắc mãi, cô Cúc đề nghị anh Hoàng để cho chị em cõng qua suối. Anh Hoàng cương quyết không chịu, phải thuyết phục mãi, anh mới đồng ý. Đến lúc anh đồng ý rồi, vấn đề nan giải đã xảy ra: không có cô nào chịu cõng vì ngại... Cuối cùng, Cúc đành phải làm nhiệm vụ khó khăn đó. Nhìn cô bé nhỏ bặm miệng cõng anh Hoàng qua suối, đồng đội cô vừa thương, vừa buồn cười, cứ bụm miệng cười khúc khích. Lần ấy, đoàn đi đến tối vẫn chưa về đến lán trại của C2. Đã có kinh nghiệm đi rừng một mình, Cúc chặt ống lồ ô, bứt cây bông trang đập dập rồi châm lửa đốt đuốc đi trong đêm. Khi về đến lán trại, bố trí xong chỗ nghỉ cho thương binh, các cô đem 2 phần cơm, 1 cho thương binh là cơm độn sắn, 1 rá sắn độn cơm dành cho những nữ TNXP vừa đi làm nhiệm vụ về. Nhìn các cô cười đùa vui vẻ, chọc ghẹo nhau bên rá cơm toàn sắn ăn với muối, anh Hoàng nghẹn ngào bật khóc vì thương. Sau ngày hòa bình lập lại, khi cô được lãnh đạo cho ra miền Bắc học tiếp văn hóa, người thương binh ấy đã tìm đến gặp cô để cảm ơn. Khỏi nói là Đại đội trưởng C2 ngạc nhiên đến thế nào, bởi cô chỉ coi đó như một nhiệm vụ phải làm, cũng không nghĩ đến chuyện có ngày sẽ có người tìm đến cảm ơn.
Tháng 10/1972, Tiểu đoàn bà Thao giải thể, tất cả các thành viên trong tiểu đoàn được chuyển sang làm nhiệm vụ mới. Trong suốt hơn 4 năm thực hiện sứ mệnh thiêng liêng mà lịch sử đã giao cho, tổng cộng Tiểu đoàn 232 đã gùi 5.019 tấn hàng. Trung bình mỗi năm, mỗi nữ chiến sĩ ở Tiểu đoàn đi bộ 600km/năm, trong đó có những cái tên gắn liền với những chiến công như Phạm Thị Thao, Lê Thị Cúc, Nguyễn Thị Huấn, Lê Thị Hồng Lợi, Phan Thị Mười, Hoàng Thị Lựu, Phạm Thị Sen... 57 người trong số họ đã vĩnh viễn nằm lại dọc trên con đường Trường Sơn 559 máu lửa và dọc những vùng giáp ranh.
Hà An