Huyền thoại ngọn cờ giới tuyến

Thời sự
Tháng tư lịch sử, đất và người Quảng Trị dường như trải rộng lòng ra để đón chào những đoàn khách trên mọi miền đất nước về tham dự Lễ hội “Thống nhất non sông” tại đôi bờ sông Bến Hải.

Nắng tháng tư nhuốm vàng đôi bờ Bến Hải. Kỳ đài Tổ quốc ở thôn Hiền Lương, xã Vĩnh Thành (Vĩnh Linh, Quảng Trị) - chứng tích lịch sử một thời vẫn tung bay hiên ngang trước gió. Để lá cờ luôn “sống” cùng hồn dân tộc trong những năm kháng Mỹ, phải kể đến những chiến công oanh liệt của người thôn Hiền Lương. Trong đó, mẹ Diệm là một huyền thoại giữ cờ trong mưa bom, bão đạn...

Tháng tư lịch sử, đất và người Quảng Trị dường như trải rộng lòng ra để đón chào những đoàn khách trên mọi miền đất nước về tham dự Lễ hội “Thống nhất non sông” (29/4 đến 1/5/2010) tại đôi bờ sông Bến Hải. Lễ hội được tổ chức với quy mô hoành tráng mang tầm cỡ quốc gia.

Bên cạnh Lễ Thượng cờ là một chương trình nghệ thuật đặc biệt “Bài ca thống nhất” cùng với màn bắn pháo hoa bên sông. Chương trình diễn ra trên sân khấu bờ Nam sông Bến Hải lấy Kỳ đài Hiền Lương và cầu Hiền Lương cũ làm không gian sân khấu. Chương trình dự kiến gồm ba chương: “Nỗi đau chia cắt”, “Đường giải phóng” và “Bài ca thống nhất” với sự tham gia biểu diễn của các đoàn nghệ thuật đến thuộc 21 tỉnh, thành phố trong cả nước. Đặc biệt, hình ảnh hòa nước nguồn suối Pắc Bó và sông Cửu Long vào dòng Bến Hải thể hiện sâu sắc tinh thần đoàn kết trong ngày vui thống nhất.

Những ánh hồng rực rỡ của ngàn vạn ngọn nến tri ân hòa trong khói nhang linh thiêng ở khắp 72 nghĩa trang. Những dòng sông lung linh bởi triệu đóa hoa dâng lên những linh hồn bất diệt với thời gian...

Kỳ đài uy nghi bên dòng sông Bến Hải lịch sử ngày nay.

Nuôi chí thống nhất hai miền

Tháng 7/1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ về việc lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết. Sông Bến Hải nằm dọc theo vĩ tuyến 17 trở thành giới tuyến tạm thời giữa hai miềm Nam – Bắc. Quân ta thực hiện đúng theo Hiệp định, đâu đó khắc dấu bên cầu Hiền Lương là những phút chia tay ngày tập kết. Ai ngờ đâu, lời ước hẹn hai năm đoàn tụ bỗng phải dằng dẵng... Để sông Bến Hải dùng dằng bên nhớ, bên thương oằn mình chịu bom đạn quân thù. Vợ bên nớ, chồng bên ni vò võ mong chờ, thương nhớ nhau...

Cầu Hiền Lương gánh trên vai suốt cả một chặng sử dài oanh liệt. Khúc sông vỏn vẹn chưa đầy 100m. Cầu bắc qua giới tuyến dài 178m với 894 tấm ván và chỉ mất vài phút bộ hành mà cả dân tộc ta ròng rã mấy ngàn ngày đấu tranh mới nối được đôi bờ.

Để chiến đấu với kẻ thù trên cả hai mặt trận chính trị và vũ trang, ngày 10/8/1954, Kỳ đài đầu tiên được dựng giữa sân của Đồn công an vũ trang giới tuyến Hiền Lương với ý nghĩa thể hiện tấm lòng khát khao, quyết tâm đấu tranh để non sông Việt Nam thu về một mối. Cột cờ làm bằng gỗ cao 16m, lá cờ may bằng vải sa-tanh đỏ rộng 24m2. Đến tháng 4/1956, Chính phủ ta cho xây cột cờ lớn và kiên cố bằng thép ống cao 34m, trên đỉnh gắn một ngôi sao vàng bằng đồng đường kính 1,2m với hệ thống 15 bóng đèn loại 500W, treo lá cờ có kích thước 134,4m2 (9,6x14m).

Được bảo vệ vững chắc trong nhiều năm liền, đến những năm 1967-1968, cột cờ bị gãy đỗ do bom đạn của Mỹ ngụy tăng cường đánh phá. Để dựng lại cũng như kéo lá cờ lên tới đỉnh cột, nhiều chiến sĩ của ta đã anh dũng hy sinh. Kéo được cờ lên, còn phải giữ cờ. Nếu cờ bị đạn xuyên rách, phải vá ngay. Huyền thoại về những người vá cờ cũng được viết nên từ đó. Tấm lòng khát khao thống nhất, hòa bình hóa thành hành động anh hùng xả thân vì đất nước, mãi mãi trở thành những huyền thoại bất diệt...

Vá cờ trong bão đạn

Những ngày này, bà con Hiền Lương đều dọn dẹp nhà cửa, chỉnh trang đường sá từ trên Quốc lộ 1A đến đường vào từng xóm nhỏ, chuẩn bị đón hàng nghìn lượt khách về tham gia Lễ hội “Thống nhất non sông”. Ai cũng khấp khởi một niềm tự hào về những năm tháng kháng Mỹ oanh liệt đã qua của đất lửa Vĩnh Linh và những đổi thay sau hơn 35 năm nối lại hai miền.

Tượng mẹ Diệm ngồi vá cờ tại Bảo tàng lịch sử cách mạng Hiền Lương.

Qua lời giới thiệu, chúng tôi về bờ Bắc thôn Hiền Lương tìm gặp ông Lê Hữu Năm - là một trong những người tham gia chiến đấu tại thôn để tìm hiểu về câu chuyện vá cờ. Dẫn chúng tôi ra tận dưới chân cột cờ, ông Năm cứ ngẩng mặt lên lá cờ mà nói: “Gần đến lễ 30/4, cứ nhìn lên cột cờ này bà con Hiền Lương tự hào lắm. Không biết đã bao nhiêu chiến sĩ, bao nhiêu con người đã anh dũng chiến đấu, hy sinh cho ngày thống nhất. Chỉ riêng chuyện vá cờ thôi, dân làng tui có kể cả ngày cũng không hết. Chuyện mẹ Diệm, người đã cùng đồng đội hằng đêm ngồi dưới tầm bom đạn của để vá cờ Tổ quốc. Để nuôi tròn khát vọng thống nhất đôi bờ giờ chỉ còn mẹ Sang là biết. Mẹ Sang là người cũng đã từng vá cờ cùng mẹ Diệm”.

Đến căn nhà nhỏ cuối thôn Hiền Lương, mẹ Hoàng Thị Sang năm nay đã 89 tuổi, mẹ sống cùng người con trai út. Dù đã già yếu nhưng mẹ vẫn ngồi suốt cả buổi chiều để kể lại cho chúng tôi: “Chiến tranh, bom đạn dội xuống như mưa, nhà tan cửa nát, người chết bên mâm cơm, người sống như hạt gạo trên sàng, khốc liệt lắm. Những năm 67-68, đất Vĩnh Linh trở thành mục tiêu tăng cường đánh phá của Mỹ ngụy, phía ta mỗi ngày treo cờ Tổ quốc lên bờ Bắc đều bị họng súng giặc nhắm bắn”. Dù bom đạn ác liệt, nhưng phía quân ta quyết tâm trên cột lúc nào cũng phải có cờ đỏ sao vàng, to hơn, lành hơn, cao hơn phía địch. Bởi lá cờ ấy là khát vọng thống nhất cháy bỏng!

Dù có nát thịt, tan xương cũng phải giữ cờ cho bằng được. Cờ bị đạn bom xé rách thì phải vá lại ngay. Công việc nghe qua bình thường nhưng chứa đựng nguy hiểm không kém việc cầm súng xông trận. “Thời điểm ấy, tất cả những người không cầm súng chiến đấu đều được tập kết ra Bắc. Nhưng khi thấy các chiến sĩ công an, bộ đội cặm cụi vá cờ, chị Diệm rủ chị em tui tình nguyện ở lại nhận công việc ấy” – mẹ Sang hồi nhớ.

Cờ bị bắn phá liên tục. Việc vá cờ diễn ra suốt ngày đêm. Do lá cờ có kích thước lớn 134,4m2 nên phải đặt vá ở một khoảng sân rộng, khi máy địch ập đến thì lập tức phải xếp cờ chui xuống hầm tránh bom. Im tiếng súng lại lên vá tiếp để hoàn thành nhanh nhất với khẩu hiệu: “Cờ luôn bay trên cột!”. Bao nhiêu m2 cờ đã được vá? Bao nhiêu vết đạn xé rách cờ được bịt kín lại? Đó là con số mà những người như mẹ Diệm, mẹ Sang... chẳng bao giờ nhớ nổi. “Chỉ biết, cờ rách thì vá, vá cho nhanh!” - mẹ Sang quả quyết.

Mẹ Diệm (phải) cùng mẹ Sang (trái) và đồng đội vá cờ trước cửa hầm bên bờ Bắc sông Hiền Lương dưới mưa bom bão đạn.     Ảnh: Tư liệu

Khát vọng không biên giới

“Trong đội vá cờ, chị Diệm được phong là thủ trưởng. Bởi chị không những khéo về đường kim, mũi chỉ mà lúc vá, chị còn biết chú trọng chỗ quan trọng nhất trên lá cờ. Đó là ngôi sao vàng năm cánh” - mẹ Sang kể. Theo như mong ước của mẹ Diệm: Vá lành ngôi sao cũng là gắn lành lại năm châu, thế giới không còn chiến tranh, con người không còn đối xử với nhau bằng bom đạn và sự hủy diệt. “Chiến tranh chia cắt, người bên ni chỉ biết ngó người bên tê mà rơi nước mắt. Đã là người Việt Nam, dù ở cả hai miền, đã có lòng yêu Tổ quốc thì ai cũng cùng chung một khát vọng như chị Diệm. Tui phục tấm lòng chị Diệm lắm”. Bởi khát vọng mẹ Diệm đã vượt ra ngoài nỗi khát vọng thống nhất, độc lập để hướng đến một thế giới sống bằng tình người, không còn tiếng súng bom.

Người mẹ vá cờ đã đi vào huyền thoại ấy là mẹ Ngô Thị Diệm, sinh ra ở bờ Bắc sông Bến Hải, có chồng là chiến sĩ cách mạng Lê Văn Hồi đã hy sinh. Mẹ sinh được hai người con là anh Lê Văn Sòa, hiện là cán bộ quân đội công tác tại Hà Nội, và chị Lê Thị Nguyệt, sinh sống ở huyện Gio Linh (Quảng Trị). Sau ngày đất nước hòa bình thống nhất, mẹ Diệm ở với con gái, đến năm 1992 thì mẹ qua đời vì bạo bệnh với lời nhắn nhủ các con trước trước lúc ra đi: “Mạ muốn khi nằm xuống, mạ sẽ được đưa về lại nơi gần cột cờ Hiền Lương. Để ngày ngày, mạ vẫn được nhìn thấy cột cờ...”

Đầu năm 2008, Đảng và Nhà nước đã truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang trong kháng chiến chống Mỹ cho mẹ Diệm. Chị Nguyệt (con gái mẹ Diệm) lau giọt nước mắt: “Nay nhắc đến ngọn cờ bên dòng Bến Hải thì ai cũng nói đến những việc làm của mẹ tui. Tiếc rằng mẹ không sống được tới ngày được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng”.     

Trần Nguyên Phong


Ý kiến của bạn