Hưởng ứng Ngày thế giới phòng chống HIV/AIDS (1/12): Phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam 20 năm Một chặng đường

Tin nóng y tế
Việt Nam đã khống chế được tỷ lệ lây nhiễm HIV dưới 0,3% dân số, đạt mục tiêu của Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2010, được bạn bè quốc tế đánh giá cao.
 TS. Nguyễn Quốc Triệu, Bộ trưởng Bộ Y tế.
Việt Nam đã khống chế được tỷ lệ lây nhiễm HIV dưới 0,3% dân số, đạt mục tiêu của Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2010, được bạn bè quốc tế đánh giá cao. Tuy nhiên trước mắt chúng ta vẫn đang và sẽ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức... Nhân Tháng hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS năm 2010 và Kỷ niệm 20 năm ứng phó với HIV/AIDS ở Việt Nam,  TS. Nguyễn Quốc Triệu, Bộ trưởng Bộ Y tế, Phó Chủ tịch Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm đã dành cho bạn đọc báo Sức khoẻ&Đời sống những ý kiến trao đổi thiết thực về vấn đề cộng đồng đang rất quan tâm.

Phóng viên (PV): Thưa Bộ trưởng, kể từ ca nhiễm HIV được phát hiện đầu tiên tại TP. Hồ Chí Minh vào tháng 12/1990, đến nay diễn biến của dịch HIV ở nước ta trải qua nhiều thăng trầm. Xin Bộ trưởng nói rõ hơn về quá trình này?

TS. Nguyễn Quốc Triệu: Theo thống kê của các địa phương cho thấy, số ca nhiễm HIV mới được phát hiện hằng năm, số ca chuyển sang AIDS và số người tử vong do AIDS hằng năm liên tục tăng từ đầu vụ dịch đến tận năm 2007. Nhưng trong 2-3 năm trở lại đây, số ca nhiễm mới, số ca bệnh AIDS mới và số tử vong đều giảm. Thống kê tỷ lệ nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư hiện nay là 0,28%. Như vậy có thể nói rằng chúng ta đã kiềm chế được tỷ lệ hiện nhiễm HIV dưới 0,3% dân số như mục tiêu của Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2010.  

 TS. Nguyễn Quốc Triệu- Bộ trưởng Bộ Y tế trao quà cho các em nhỏ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS  nhân Ngày quốc tế thiếu nhi.

Tuy nhiên, dịch HIV vẫn đang chứa đựng các yếu tố phức tạp và tiềm ẩn nhiều nguy cơ: nhiễm HIV trong nữ giới đang có xu hướng gia tăng, hiện đã tới xấp xỉ 30%/tổng số (so sánh với những năm đầu, người nhiễm HIV hầu hết là nam giới).  Tỷ lệ nhiễm HIV qua đường máu đang chiếm tỷ lệ cao (49%). Nhiễm HIV do quan hệ tình dục không an toàn tăng dần từ 12% năm 2004, lên 27% năm 2008, nay đã tăng đến 38%.  Một số tỉnh miền Trung và Tây Nam Bộ tăng đến 50-70%. Một số tỉnh miền núi như Điện Biên, Sơn La, Thái Nguyên, Bắc Kạn… đang ở nhóm đầu có tỷ lệ cao nhiễm HIV/100.000 dân.

PV: Chặng đường 20 năm phòng, chống HIV/AIDS chưa dài song cũng không là ngắn. Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Xin Bộ trưởng chia sẻ về những kinh nghiệm quý  này?

TS. Nguyễn Quốc Triệu: Thứ nhất, chúng ta đã và đang triển khai toàn diện 9 chương trình hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đã đạt được nhiều thành tựu như: thông tin, giáo dục truyền thông tác động thay đổi kiến thức và hành vi về phòng, chống HIV/AIDS, đặc biệt trong các nhóm nguy cơ cao. Nhiều nghiên cứu, đánh giá qua các năm đã khẳng định hiểu biết, thái độ và thực hành của người dân về phòng, chống HIV/AIDS đã được tăng lên một cách đáng kể. Công tác can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV đã được đẩy mạnh như chương trình phân phát bao cao su và trao đổi bơm kim tiêm.  Đến năm 2009, chương trình trao đổi bơm kim tiêm đã được triển khai ở 60 tỉnh/thành phố. 

 Diễu hành nhân Ngày thế giới phòng chống HIV/AIDS.

Việc chăm sóc, hỗ trợ và điều trị (bằng thuốc đặc hiệu ARV) cho người nhiễm HIV không ngừng mở rộng. Năm 2003 mới khởi động 2 điểm điều trị, năm 2009 đã mở rộng ra 288 điểm. Chất lượng điều trị không ngừng tăng lên. Tỷ lệ sống sau 12 tháng điều trị đã đạt được 82,5% đối với người lớn và 93% đối với trẻ em.

Một điểm mới là chúng ta đã triển khai thử nghiệm thành công chương trình điều trị cai nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng methadone tại các TP.Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội. Đang xem xét khả năng để dần mở rộng ra các tỉnh, thành phố khác.

Thứ hai là công tác quản lý chỉ đạo và phối hợp liên ngành: công tác phòng, chống HIV đã được xác định là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và tất cả các cấp, các ngành. Quan điểm phối hợp liên ngành đã thể hiện ngay trong cơ cấu các thành viên của Ủy ban Quốc gia gồm 25 vị là lãnh đạo Chính phủ và các bộ, ban, ngành, đoàn thể, Trung ương. Tại các địa phương cũng được hướng dẫn thành lập tương tự. Ủy ban Quốc gia đã tham mưu cho Đảng, Quốc hội, Chính phủ ban hành nhiều văn bản quan trọng, như Chỉ thị 54 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường công tác phòng, chống HIV/AIDS trong tình hình mới, Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2010 và tầm nhìn 2020. Đặc biệt, Việt Nam cũng là một số ít nước trên thế giới đã ban hành được Luật Phòng, chống HIV/AIDS.

 Một thành tựu đáng kể là chúng ta đã thành lập được hệ thống phòng, chống HIV/AIDS từ Trung ương đến địa phương; riêng trong lĩnh vực y tế là sự hình thành các trung tâm phòng, chống HIVAIDS ở các tỉnh, thành phố lan toả rộng đến cấp quận, huyện. Thực tế hoạt động đã chứng tỏ hệ thống này là cộng cụ hữu hiệu để triển khai các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS hiệu quả.

Thứ ba, đã luôn quan tâm tăng viện các nguồn lực cho công tác phòng, chống HIV/AIDS. Đầu tư từ nội lực, cả ngân sách Trung ương và địa phương hằng năm đều gia tăng. Đồng thời chú trọng huy động các nguồn xã hội hoá, thu hút sự đóng góp thiết thực, rộng rãi của nhiều tổ chức và cá nhân trong toàn xã hội. Song song, chúng ta đã ra sức tranh thủ vận động các nguồn hỗ trợ quốc tế. Trên thực tế, các nguồn hỗ trợ này đã đóng góp phần rất lớn cho hoạt động phòng, chống HIV/AIDS ở nước ta đạt những kết quả, thành tựu như được thấy.

PV: Thành tựu mà Việt Nam đạt được là rất đáng ghi nhận. Song, trong cuộc chiến này chúng ta vẫn luôn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức. Là cơ quan thường trực phòng, chống HIV/AIDS, xin Bộ trưởng cho biết  ngành y tế hiện nay đang phải nỗ lực ứng phó những khó khăn thách thức phòng, chống HIV/AIDS là những gì, như thế nào?

TS. Nguyễn Quốc Triệu: Đúng là cuộc chiến phòng, chống HIV/AIDS vẫn đang tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức to lớn:

20 năm sau ngày phát hiện có người nhiễm HIV đến nay, Việt Nam vẫn tiếp tục phải đối mặt với sự kỳ thị, phân biệt đối xử. Vẫn còn tình trạng trẻ em khó được hội nhập bình thường vào các hoạt động học tập, vui chơi. Không ít trường hợp người có HIV bị gia đình và cộng đồng chối bỏ.

Các dịch vụ dự phòng, điều trị chưa đáp ứng được yêu cầu về độ bao phủ và hiệu lực, hiệu quả. Tại các địa chỉ đông đối tượng có HIV (như các trung tâm lao động xã hội, trại giam...), việc tiếp cận được các dịch vụ dự phòng, chăm sóc và điều trị ARV vẫn còn rất hạn chế.

Khó khăn hạn chế về nguồn lực (cả nhân - tài - vật lực) là một nguyên nhân quan trọng trở ngại cho việc nhân rộng các mô hình, kinh nghiệm tốt ở mỗi địa bàn. Các chương trình phòng, chống HIV/AIDS thiếu các điều kiện để khuyến khích, thu hút và giữ chân các nhân viên có năng lực.

Một số địa phương vẫn chưa thực sự tạo điều kiện cho việc mở rộng các hoạt động can thiệp giảm tác hại phòng lây nhiễm HIV như chương trình trao đổi bơm kim tiêm và chương trình sử dụng bao cao su...

Về các nguồn tài trợ quốc tế, khi Việt Nam đang tiến đến vị trí của nước có thu nhập trung bình, sự ủng hộ từ bên ngoài sẽ giảm đi. Việc duy trì nguồn lực trong nước cho các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS, đặc biệt là công tác điều trị ARV và điều trị methadone là một thách thức lớn cần sớm có giải pháp phù hợp.

PV:Với những khó khăn, thách thức như trên, để duy trì những thành tựu  tiến tới việc khống chế và đẩy lùi đại dịch HIV/AIDS, xin Bộ trưởng cho biết một số định hướng chính về công tác phòng, chống HIV/AIDS trong thời gian tới?

TS. Nguyễn Quốc Triệu: Để tiếp tục duy trì những thành tựu tiến tới khống chế và đẩy lùi đại dịch HIV/AIDS trong những năm tới, chúng ta cần phải thực hiện tốt một số hoạt động cũng như giải pháp sau:

- Tiếp tục thực hiện các cam kết chính trị nhằm khuyến khích thay đổi hành vi, phổ biến rộng rãi các thông tin về HIV, nâng cao việc thực thi khung pháp chế hiện hành, quyết liệt xử lý, giảm thiểu  tình trạng kỳ thị phân biệt đối xử liên quan đến HIV.

 Siêu âm chẩn đoán bệnh cho bệnh nhân AIDS tại TT phòng chống HIV/AIDS Hải Dương.

- Đẩy mạnh các biện pháp đảm bảo mở rộng tiếp cận dự phòng, điều trị và chăm sóc về HIV/AIDS cho tất cả những người có nhu cầu. Mở rộng chương trình điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone và cung cấp các dịch vụ dự phòng HIV tại các trại giam, tạm giam, trường giáo dưỡng, tăng cường sự kết nối giữa các trại, trường này với các cơ sở y tế và cộng đồng.

- Tăng cường hơn nữa sự tham gia của các tổ chức xã hội dân sự, những người nhiễm HIV vào các chương trình phòng, chống HIV/AIDS.

- Xây dựng chiến lược phát triển nhân lực nhằm thu hút gắn bó đội ngũ cán bộ chuyên môn. Tạo điều kiện đảm bảo thu nhập, đời sống và phát triển năng lực cho cán bộ ở tất cả các cấp, đặc biệt trong các lĩnh vực cung cấp, quản lý và điều phối các nỗ lực phòng, chống HIV/AIDS tại tuyến tỉnh, huyện và cơ sở trực tiếp.

- Phân bổ, sử dụng hợp lý các nguồn tài chính. Nhấn mạnh tăng cường nguồn kinh phí địa phương, các nguồn xã hội hoá...

- Tiếp tục tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng, chống HIV/AIDS. Đại dịch HIV vốn có tính chất toàn cầu. Làm tốt hợp tác quốc tế không chỉ để tranh thủ được nguồn lực hỗ trợ mà cũng để tiếp cận, học hỏi và ứng dụng được những hỗ trợ về kỹ thuật, những mô hình thực hành tốt, những thành tựu và kinh nghiệm quốc tế trong công tác phòng, chống HIV/AIDS.

PV: Trân trọng cảm ơn Bộ trưởng!

       Thu Hương (thực hiện)


Ý kiến của bạn