Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ em

Chính sách
SKĐS - Bộ Y tế đã có hướng dẫn về chẩn đoán và điều trị bệnh suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ em dưới 59 tháng.

Theo Quyết định 2989/QĐ-BYT, Bộ Y tế đã có hướng dẫn cụ thể về chẩn đoán và điều trị bệnh suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ em từ 0 đến 59 tháng tuổi.

Suy dinh dưỡng cấp tính là gì?

Suy dinh dưỡng cấp tính (SDDCT) là tình trạng bệnh lý xảy ra khi cơ thể không được cung cấp đủ năng lượng và protein theo nhu cầu trong một khoảng thời gian ngắn. Nguyên nhân có thể do khẩu phần ăn thiếu hụt, do bệnh lý hoặc sự kết hợp của cả hai, dẫn đến rối loạn chuyển hóa và suy giảm khối lượng cơ thể. Đặc trưng lâm sàng của SDDCT là tình trạng giảm cân nhanh (gầy còm) hoặc xuất hiện phù dinh dưỡng.

Nguyên tắc phát hiện và quản lý suy dinh dưỡng cấp tính

Việc phát hiện SDDCT cần được thực hiện thường xuyên tại cộng đồng và tại các cơ sở y tế thông qua sàng lọc bằng các phương pháp đơn giản như: đo chu vi vòng cánh tay (MUAC); cân đo nhân trắc; và phát hiện phù dinh dưỡng hai bên. 

Quản lý SDDCT do nguyên nhân thiếu protein năng lượng hiện nay chủ yếu dựa trên mô hình quản lý lồng ghép SDDCT tại cộng đồng (Community-based Management of Acute Malnutrition – CMAM). Theo cách tiếp cận này, trẻ SDDCT không biến chứng được điều trị ngoại trú và theo dõi tại cộng đồng; SDDCT có biến chứng hoặc cần thăm dò chuyên khoa được điều trị nội trú tại cơ sở y tế. Cách tiếp cận này giúp mở rộng khả năng tiếp cận điều trị, phát hiện sớm các trường hợp suy dinh dưỡng nặng và góp phần giảm tử vong ở trẻ em.

Việc điều trị được phân tầng theo hệ thống y tế Việt Nam, trong đó:

- Cơ sở y tế tại trung ương, tỉnh và khu vực: thực hiện chẩn đoán và điều trị nội trú cho các trường hợp SDDCT có biến chứng hoặc cần thăm dò chuyên khoa.

- Y tế cơ sở (xã/phường/phòng khám): thực hiện sàng lọc, phát hiện sớm và quản lý điều trị ngoại trú và điều trị dự phòng cho trẻ SDDCT nặng không biến chứng và trẻ SDDCT vừa.

- Cộng đồng và hộ gia đình: có vai trò trong việc theo dõi tăng trưởng, tuân thủ phác đồ điều trị và thực hiện các biện pháp dự phòng.

Nguyên tắc điều trị chung và phân tầng điều trị suy dinh dưỡng cấp tính

Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ em - Ảnh 1.

10 bước điều trị suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ em từ 0 đến 59 tháng tuổi. Ảnh: Bộ Y tế.

Điều trị SDDCT nhằm mục tiêu giảm tử vong, điều trị các biến chứng cấp tính, phục hồi tình trạng dinh dưỡng và phòng ngừa tái phát. Việc điều trị cần được thực hiện kịp thời, liên tục và theo cách tiếp cận toàn diện, lấy trẻ làm trung tâm, kết hợp điều trị dinh dưỡng với điều trị bệnh lý kèm theo và tư vấn chăm sóc, nuôi dưỡng phù hợp.

- Điều trị SDDCT phải dựa trên phân loại mức độ nặng và tình trạng lâm sàng.

- Ưu tiên phát hiện sớm và xử trí kịp thời các biến chứng đe dọa tính mạng, đặc biệt ở trẻ SDDCT nặng.

- Điều trị cần kết hợp song song giữa: 

+ Điều trị dinh dưỡng thích hợp theo từng giai đoạn.

+ Điều trị và dự phòng các bệnh lý kèm theo.

+ Theo dõi đáp ứng điều trị và tăng trưởng của trẻ.

- Thực phẩm điều trị (là thực phẩm dinh dưỡng y học (TPDDYH) hoặc thực phẩm dành cho chế độ ăn đặc biệt – Phụ lục 1) sử dụng trong điều trị phải đủ, cân đối dưỡng chất, phù hợp theo nhu cầu của trẻ theo tuổi, mức độ SDD và bệnh lý khác kèm theo. Khuyến khích và hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ ở trẻ dưới 24 tháng tuổi.

- Đối với trẻ dưới 6 tháng, sử dụng cách tiếp cận cặp mẹ – trẻ, không điều trị riêng trẻ, hỗ trợ tư vấn dinh dưỡng cho mẹ. Ưu tiên sữa mẹ.

- Gắn kết chặt chẽ điều trị với tư vấn dinh dưỡng và chăm sóc trẻ tại gia đình, nhằm bảo đảm tuân thủ điều trị và phòng ngừa tái phát.

- Không trì hoãn điều trị chỉ vì thiếu xét nghiệm cận lâm sàng, các quyết định điều trị cần được chỉ định kịp thời chủ yếu dựa trên đánh giá lâm sàng và nhân trắc.

- Phân tầng điều trị SDDCT: Dựa trên mức độ SDD và lâm sàng, điều trị SDDCT được phân thành ba hợp phần điều trị (ba tầng) có sự liên thông và chuyển tiếp giữa các hợp phần (Phụ lục 3).

+ Điều trị nội trú được thực hiện tại các cơ sở khám chữa bệnh có đủ điều kiện, nhằm ổn định tình trạng lâm sàng, điều trị biến chứng cấp tính hoặc cần được đánh giá sâu hơn và chuẩn bị cho giai đoạn phục hồi dinh dưỡng tiếp theo.

+ Điều trị ngoại trú được thực hiện tại trạm y tế xã và cộng đồng, với trọng tâm là cung cấp điều trị và thực hiện các biện pháp phục hồi dinh dưỡng tại hộ gia đình cho 9 trẻ em bị SDDCT nặng nhưng chưa có biến chứng hoặc trẻ được chuyển về từ điều trị nội trú.

+ Điều trị dự phòng được thực hiện tại cộng đồng dành cho trẻ đã hoàn thành điều trị ngoại trú hoặc trẻ SDDCT vừa nhằm tiếp tục duy trì việc phục hồi dinh dưỡng, theo dõi tăng trưởng và tư vấn chăm sóc, nuôi dưỡng tại gia đình nhằm phòng ngừa tái phát SDD và chuyển sang lồng ghép với chăm sóc dinh dưỡng thường quy cho trẻ.

Ba hợp phần điều trị nêu trên có mối liên hệ chặt chẽ và cần được thực hiện liên tục, linh hoạt, phù hợp với diễn biến lâm sàng của trẻ. Trẻ có thể được tiếp nhận vào bất cứ hợp phần nào tùy theo tình trạng của trẻ. Việc chuyển hợp phần điều trị hoặc chuyển giai đoạn điều trị phải dựa trên tiêu chuẩn chuyên môn rõ ràng, bảo đảm trẻ luôn được tiếp cận hình thức điều trị phù hợp nhất tại từng thời điểm.

Điều trị SDDCT được chia thành hai pha điều trị: pha ổn định biến chứng và pha hồi phục. Việc tuân thủ đúng các pha điều trị có ý nghĩa quyết định trong việc giảm tử vong và phục hồi dinh dưỡng an toàn. Hai pha điều trị gồm 10 bước cần thiết cơ bản sau:

Bước 1. Điều trị/dự phòng hạ đường huyết.

Bước 2. Điều trị/dự phòng hạ thân nhiệt.

Bước 3. Điều trị/dự phòng mất nước.

Bước 4. Điều chỉnh mất cân bằng điện giải.

Bước 5. Điều trị/dự phòng nhiễm khuẩn.

Bước 6. Điều chỉnh thiếu hụt các vi chất dinh dưỡng.

Bước 7. Bắt đầu cho ăn theo hướng dẫn.

Bước 8. Bắt kịp tốc độ tăng trưởng.

Bước 9. Cung cấp kích thích các giác quan và hỗ trợ cảm xúc.

Bước 10. Chuẩn bị các bước tiếp theo sau khi bình phục.

Hai pha điều trị phản ánh tiến trình phục hồi sinh lý và dinh dưỡng của trẻ, trong khi ba hợp phần điều trị phản ánh mô hình tổ chức cung cấp dịch vụ trong hệ thống y tế. Pha điều trị 1 (ổn định biến chứng tương ứng với hợp phần nội trú) và pha điều trị 2 (hồi phục) tương ứng với hợp phần ngoại trú, sau đó tiếp tục duy trì tránh tái phát ở hợp phần dự phòng. Thời gian điều trị các pha và đơn vị điều trị (nội trú/ngoại trú) có thể linh hoạt và thay đổi theo từng cá thể.

Quyết định 2989/QĐ-BYT

Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ em - Ảnh 2.

SKĐS - Danh mục bệnh hiểm nghèo để thực hiện chế độ, chính sách cho sĩ quan Quân đội nghỉ hưu.



Ý kiến của bạn