Hộp đường sẻ nửa

Văn hóa – Giải trí
Chỗ thân tình, ta thường nói: “Con chấy cắn đôi, bát cơm sẻ nửa”. Quan hệ giữa tôi với anh bạn nhà văn Võ Quảng là như vậy, tôi còn biến tấu “hộp đường sẻ nửa” để nhớ lại một kỷ niệm thời bao cấp.
(SKDS) –Chỗ thân tình, ta thường nói: “Con chấy cắn đôi, bát cơm sẻ nửa”. Quan hệ giữa tôi với anh bạn nhà văn Võ Quảng là như vậy, tôi còn biến tấu “hộp đường sẻ nửa” để nhớ lại một kỷ niệm thời bao cấp.

Hồi đó, chiến tranh chống Mỹ chấm dứt đã 5 năm (1980). Kinh tế Việt Nam rục rịch đổi mới. Hàng nước ngoài bắt đầu bày bán ở các cửa hàng Hà Nội. Đồ ăn, đồ mặc lịch sự do Việt kiều gửi về hay cán bộ đi công tác các nước tư bản mang về xuất hiện ở nhiều gia đình. Chiếc bút bi BIC, mảnh sa-tanh Paris, chiếc xe đạp Pơ-giô, chai rượu Napoléon không còn là của quá hiếm tuy cái nghèo thời bao cấp vẫn còn.

Một hôm, Võ Quảng đến tìm tôi ở cơ quan. Anh vừa đi công tác ở một nước XHCN Đông Âu về. Anh trìu mến, trân trọng đưa tận tay tôi món quà nước ngoài: nửa hộp đường miếng. Tôi cảm động chính vì cái “một nửa” này! Quà của một nước tư bản thường là đồ sang: lọ nước hoa, cái cà-vạt… Đây chỉ là hộp đường kính trắng, của hơi hiếm vì là đường miếng dễ định lượng khi uống cà phê. Vậy là hộp đường này anh chỉ có một hộp? Nếu anh tặng tôi cả hộp thì nhà anh lại không có đường dùng. Bạn thân thì mới “con chấy cắn đôi” như vậy! Đó là kỷ niệm nhớ lâu, một thời chia sẻ cho nhau cái nghèo vật chất mà đậm tình người!

Gia đình Võ Quảng sống thanh bạch ở một căn hộ trên gác ba phố Hàng Chuối. Mỗi lần tôi đạp xe đến chơi, anh chị tiếp tôi như người nhà, thế nào cũng có chén trà nóng kèm theo miếng bánh hay hoa quả gì đơn giản. Nhớ lại, hai năm trước khi mất, anh đột ngột yếu đi, không đi lại được, mắt mờ hẳn. Anh nằm trên chiếc ghế mây trong căn phòng nhỏ 5 mét vuông. Tôi ngồi bên anh, anh luôn cầm tay tôi và nhỏ nhẹ nói chuyện văn chương xen với chuyện đời. Anh ra đi vào tuổi 89, năm 2007.
 
Thế là từ “hộp đường sẻ nửa” đến “mối sầu sẻ nửa, bước đường chia hai” âm dương cách biệt! Anh ra đi thanh thản, ít người biết chọn cho mình một con đường mà kiên trì theo đuổi như anh. Anh luôn nói với tôi: “Mình không muốn làm “quan” cách mạng, chỉ muốn viết văn làm thơ cho thiếu nhi!”. Quả là anh đã từng làm “quan”: Võ Quảng sinh năm 1918 ở làng Thượng Phước Quảng Nam, là con một nhà nho đỗ nhị trường, mẹ làm ruộng và chăn tằm. Anh vừa học ban Tú tài ở Huế, vừa tham gia hoạt động bí mật thanh niên phản đế, bị đi tù… Năm 1944, trốn tù, hoạt động Việt minh. Thời kỳ sau Cách mạng Tháng Tám, lần lượt giữ chức quyền Chủ tịch Ủy ban Hành chính Đà Nẵng, phó Chánh án Tòa án quân sự miền Nam, hội thẩm Tòa án nhân dân Liên khu 5.
 
Anh tập kết ra Bắc năm 37 tuổi. Từ đó cho đến hết cuộc đời, anh chỉ làm chuyên viên xuất bản và viết sách cho thiếu nhi. Thơ, văn, kịch bản phim của anh thấm quyện tình yêu các em nhỏ với tình yêu đất nước, quê hương xứ Quảng, đặc biệt là vùng đất Đại Lộc quê nhà được ôm ấp bởi hai dòng sông lớn. Theo suốt đời anh là những kỷ niệm về cỏ cây, con người thôn xóm, tiếng hát chèo ghe ngân nga, hát hò khoan, hò giã gạo, hò kéo gỗ, hát bài chòi, hát bội…

Năm 1975, sau ba chục năm, Võ Quảng về thăm làng mình và kể cho nhà thơ Pháp Francoise Corrèze như sau: “Tôi hỏi thăm nơi chôn 13 người dân làng bị giặc Pháp giết năm 1947 mà không ai biết cả! Không còn cả trường học, nhà cửa của ngày xưa, tất cả đã bị đốt phá… Bà con kể cho tôi nghe những chuyện kinh hoàng” (Con chim lửa).

Không lạ gì khi Võ Quảng viết về quê anh làm cách mạng và kháng chiến chống Pháp trong cuốn tiểu thuyết Quê nội. Tôi có dịp giới thiệu với anh nữ nhà văn Pháp Alice Kahn. Hai người ý hợp, bà đã dịch Quê nội sang tiếng Pháp. Bà giới thiệu cho độc giả Pháp như sau: “Tôi rất thích hai nhân vật thiếu niên Tom Sawyer và nhân vật Hucklebery của nhà văn Mỹ Mark Twain. Sau khi làm quen với tác phẩm của Võ Quảng, tôi cảm thấy mình cũng thích nhân vật Cục và Cù Lao như vậy.
 
Ở làng Hòa Phước, các sự kiện nhỏ tạo nên câu chuyện. Bắt đầu từ sau Cách mạng Tháng Tám, tác phẩm phản ánh tâm trạng phấn khởi của dân làng, lòng tin vào tương lai đất nước. Tôi đã có dịp hỏi nhiều người trong thời kỳ ấy khi họ còn trẻ. Ở họ còn đọng lại một niềm nhớ thương… Bản dịch tiếng Pháp của tôi tiếc là không thể chuyển đạt hết cái hay của ngôn ngữ đất Quảng của tác giả, cũng không chuyển được nhạc của câu văn vì Võ Quảng trước tiên là một nhà thơ. Ông sáng tác cho các em những bài thơ đầy chất nhạc đến mức các em lên 4, lên 5 tuổi cũng thích và học thuộc lòng như bài hát…”.            

  Hữu Ngọc


Ý kiến của bạn