Mỗi chiếc gùi, chiếc rổ bắt đầu từ khâu chọn nguyên liệu không thể "vơ đại": tre phải đúng tuổi để dẻo, không mọt nhưng cũng không quá già để khỏi giòn; mây non dễ uốn nhưng yếu, mây già bền nhưng khó xử lý. Người thợ chỉ cần nhìn, sờ, bẻ thử là biết. Với ông Lim, muốn ra đúng "chất" Cơ Tu thì phải tĩnh: tay làm, mắt đo, đầu nhớ từng đường nan.

Nghệ nhân Hồ Xuân Lim.
Bếp lửa là "xưởng" của người giữ nghề
Trong căn nhà sàn, bếp lửa cháy âm ỉ vừa sưởi ấm vừa là nơi ông Lim "luyện" tre: chẻ, vót, tước nan rồi hong phơi đến độ dẻo mới vào đan. Theo ông, làm gùi cho người đi rừng là "bài toán" nhiều điều kiện: dáng phải chuẩn để đeo lâu không cấn vai; khung phải chắc để chịu mưa nắng; số ngăn, độ sâu vừa đủ cho cơm nắm, dao rựa, đồ đi rẫy. "Sai một li là gùi méo. Méo là mất hồn", ông nói.
Có chiếc gùi chỉ mất vài tuần, nhưng cũng có sản phẩm kéo dài cả tháng, tùy loại và họa tiết. Khó nhất là công đoạn lên khung, tạo độ cong: uốn non quá thì xộc xệch, uốn già quá nan gãy - lại phải làm lại từ đầu.

Trong căn nhà sàn, bếp lửa cháy âm ỉ là “xưởng” làm nghề, ông Lim ngồi cặm cụi chẻ tre, tước nan, chuẩn bị nguyên liệu trước khi vào đan.

Giữa tiếng tre nứa cọ vào nhau, ông Lim có lúc chậm tay. Điều khiến ông nghĩ nhiều nhất là lớp trẻ ít còn ngồi xuống với tre. Đồ nhựa rẻ và tiện, công việc ngoài bản cũng nhiều lựa chọn hơn. Nghề đan lát vì thế dễ bị "đẩy về một góc", tồn tại như "món trưng bày" hơn là vật dụng sống cùng nếp nhà.

Đôi bàn tay sần sùi của nghệ nhân Hồ Xuân Lim tỉ mỉ luồn từng nan tre, siết chặt mối đan để tạo thân gùi.
Người học trò và chiếc gùi đầu tiên
Bên cạnh ông Lim, anh Nguyễn Đình Thông nhớ những ngày đầu học nghề: tay bị tre cứa, vót hỏng, đan lệch rồi lại tháo ra. Đến khi làm được chiếc gùi đầu tiên -đường nét còn thô - anh vẫn không nỡ bỏ, vì cảm giác tự tay tạo ra một vật phẩm mang dấu vết văn hóa.
Bước ngoặt đến từ chiếc gùi đầu tiên. Đường nét chưa sắc, nhưng cảm giác tự tay tạo ra một vật phẩm mang dấu vết văn hóa khiến anh "không nỡ bỏ". Anh Thông kể, điều quý nhất ở ông Lim là sự hào sảng: "Thầy không giữ bí quyết. Thầy bảo già rồi, biết gì truyền hết, để con cháu còn nhận ra cái gùi của người Cơ Tu".
Giữa thầy và trò, đôi khi không cần nhiều lời. Chỉ có tiếng bếp lửa, tiếng dao chẻ, tiếng nan tre lách cách - những âm thanh nhỏ nhưng đủ để biết một dòng chảy đang được nối.

Nghệ nhân Hồ Xuân Lim hướng dẫn học trò kiểm tra dáng và khung gùi, chỉnh độ cong để đeo lâu không cấn vai, chịu được mưa nắng khi đi rẫy.
Những chiếc gùi, chiếc rổ vì thế không nằm yên. Chúng theo người lên rẫy, xuống suối; treo trên vách nhà; đôi khi trở thành món quà cho khách ghé thăm. Trong ánh nhìn trẻ nhỏ, chiếc gùi không chỉ là "đồ của người già", mà là thứ có thể chạm, có thể nghe kể, có thể hiểu về bản làng.
Một số hình ảnh nghệ nhân Cơ Tu Hồ Xuân Lim

Giữa bụi tre, ông Lim quan sát và chọn cây đúng tuổi, thẳng thớ, ít mọt – bước “chọn mặt gửi vàng” quyết định độ bền của sản phẩm.

Từ những thân tre vừa chặt, ông Lim đo cắt, lựa phần chắc để làm khung.

Bên bếp lửa, ông Lim bắt đầu lên nan, ghim từng đường đan trên tấm thân gùi. Ngon lửa vừa sưởi ấm vừa giúp vật liệu “chín” độ dẻo.



Từng mối đan được ông Lim nắn chỉnh liên tục. Chỉ cần sai nhịp, thân gùi sẽ lệch và phải tháo ra làm lại từ đầu.

Chiếc gùi không chỉ là vật dụng đi rừng; trong nếp nhà sàn, sản phẩm đan lát trở thành câu chuyện gần gũi để trẻ nhỏ chạm vào và hiểu về bản làng.