Đọc thơ của Nguyễn Hoài Nhơn (NXB Hội Nhà văn - 2012)
(SKDS) - Tôi vừa đi suốt mấy tỉnh miền Trung, dấu vết chiến tranh thì không còn mấy, nhưng dấu vết nghèo khó thì luôn lộ rõ sau những biển hiệu xanh đỏ của nhịp sống thị trường…Nơi phố thị còn như vậy, những miền sâu vùng xa chịu bao lần lụt bão thì sao? Về đến nhà, tôi nhận được tập thơ của Nguyễn Hoài Nhơn gửi tặng. Tôi được trả lời bằng cả một tấm lòng xót thương quê hương Quảng Bình của tác giả: Thương đứt ruột một vùng quê nghèo khó/ Miền Trung ơi, đá sỏi lát giấc mơ/ Từng ứa khóc, núi buồn, biển thất sắc/ Có gì như không thật, không ngờ…
Người con nửa đời xa quê ấy tự trách, tự vấn lương tâm: Mồ hôi rịn từ chân lông, kẽ tóc/Có làm nên củ khoai, hạt lúa quê mình?
Và anh nguyện: Con xin được ghé vai giữa hai đầu đòn gánh/ Mấu chặt non cao, mấu đáy biển khơi/Mỏi mòn nhớ cồn cào eo ruột thắt/Rơm rạ đời con vô nghĩa lắm, quê ơi!... (MiềnTrung).
Quê nghèo đến nỗi giấc mơ là sự bay bổng cũng phải lát bằng đá sỏi!
Và nỗi nhớ niềm đau đến quặn ruột thắt gan, nghèo đến mức mọi gắng gỏi đều như vô nghĩa! Đó là sự chân thành đến đáy của người xa quê nhìn lại cái nghèo… Tôi không làm công việc vô duyên là lý giải nỗi đau khi chữ nghĩa của tác giả đã quá đủ để dồn tụ những gập ghềnh quặn thắt… Tôi chỉ đay lại, tãi ra cho mình ghi khắc sâu hơn, được đau cùng niềm xót thương quê nghèo của tác giả! Cũng như chính tác giả cũng muốn đay lại bằng một biến tấu khác để chi tiết hơn, gói gọn miền Trung trong cái làng thân thiết của mình: Vẫn còn đó một làng quê/Nhà tranh, vách đất, lũy tre, đường lầy/Lời ru, dấu võng còn đây/Con bò buộc cội rơm gầy chân nhang/Xót xa tôi gọi, ơi làng/Sầu đông ứa nụ muộn màng nhìn tôi.
Từ hình ảnh so sánh cội rơm gầy như chân nhang đến sự ra hoa, ra nụ của cây sầu đông mà như ứa ra một giọt lệ muộn màng, nhà thơ đã chọn những chi tiết thơ khá đắt, diễn đạt bằng thể thơ dung dị 6/8. Những chi tiết thơ đã nói hộ cảm xúc nhà thơ… Sau cú “sốc” phải buột thốt bằng cách nói trực tiếp, Nguyễn Hoài Nhơn đã nâng thơ anh lên một nấc cao hơn.
Cần thâm canh hơn nữa, anh đắm lại mình trong Mảnh vườn của mẹ cũng là của anh thời bé dại: Anh phải nhấc chân để khỏi vướng những cành gai xấu hổ bò ngổn ngang, xoắn chặt những gốc cây mà mẹ luôn phải: lần gỡ tay chân xơ, tướp/Ngọn gió Lào thổi thốc lá khô bay. Anh tâm sự với mẹ: Mỗi lần đi xa con sợ quê mình lắm bão/Rặng núi trước nhà có che chắn nổi đâu! Anh rất biết, rất nhớ trong ký ức tuổi thơ: Dòng sông Gianh dữ dằn mùa nước lũ/Trái trên cành bùn lấm trắng phau. Tôi vốn quen với sắc phù sa ánh đỏ bãi sông Hồng, chợt nhớ ra con sông Gianh này còn phải băng qua những vùng sỏi đá, những đất bạc màu… Nó cũng vất vả như người miền Trung vậy!
Bóng mẹ như lan toả, trùm khắp mảnh đất quê hương lúc mẹ sống. Khi mẹ mất, hồn mẹ lại hòa trộn vào mọi đường thôn, ngõ xóm.
Có những vùng, khi người chủ gia đình chết, cây cối ngoài vườn đều được mắc dải khăn tang… Đất mẹ là khái niệm rộng không chỉ một làng, một xã hay một tỉnh, mà còn là Tổ quốc khi anh là người xa xứ.
Lần Về với mẹ sau đó của tác giả thì mẹ đã thành: Nấm đất nâu với một trời mộ bia… Người con hiếu thảo chỉ còn biết quỳ xuống mà hình dung lại hình dáng mẹ: Thân gầy guộc, dáng còm nhom/Làm sao đếm được hao mòn mẹ ơi!/Đời như núi sụt, sông trôi/Bấc đèn cạn sáng, ngày vơi vợi buồn/Con quỳ trước bóng hoàng hôn/Văn từng hột cát vuông tròn mà đau!/Mẹ ơi, mẹ bỏ đi đâu/Thông xanh giấu bóng đất nâu mẹ về.
Đó là lời ai điếu thiết tha, chân thành nhất mà vào hoàn cảnh đó, người con mất mẹ ai cũng mong có được!
Nguyễn Hoài Nhơn có đến mươi lăm bài chân dung người thân hoặc bạn bè văn nghệ, nhưng nổi lên rõ nhất lại là… chân dung tác giả.
Cũng dễ hiểu, bởi anh viết về ai, viết thế nào, trước tiên là người đọc thấy ngay điều nhà thơ yêu, ghét.
Trong đó, cũng có lúc anh nói trực tiếp về mình: Ta còn cổ hơn phố cổ/Lại ho, lại hắt hơi khàn… Bầu trời rỗng rênh thương nhớ/Ta ngồi hứng nắng mồ côi (Bóng xưa). Khi viết về ông cậu, nhà văn Hoàng Bình Trọng: Lên voi cậu chẳng thèm leo/ Bây giờ đơn độc chốn đèo bòng thơ, nhà thơ mượn dịp để tự trào: Cháu theo nghiệp chướng cậu - ờ / Nhưng mà biết đến khi mô phát tài (Cậu tôi). Nhiều lần về quê cũng là nhiều lần nhớ lại từng gương mặt, từng số phận người thân. Trong ký ức khi nhớ lại, cái gì cũng như qua đi gấp gáp: Cây bàng đỏ hoe, đường làng đỏ quạch/Chị cũng vội vàng lên phố thị làm dâu… Mẹ lật đật theo cha xuống cùng cát đất/Con kịp muộn về khấn nén hương đêm (Ký ức làng Cao). Nhà thơ còn thương xót những phận người rời quê nghèo, lại phải tới nơi nghèo khổ hơn: Đây miền sống của cháu ư?/Chênh vênh cầu khỉ, lắc lư nỗi niềm/Cháu về theo xứ ưu phiền/Kênh thì mặn đắng, biển biền biệt xa/… Chiều chiều ra đứng ngõ sau/Cả nhà thương cháu đến đau đớn chiều (Camphận).
Nhà thơ chia sẻ nỗi đau cả với bậc đàn anh Hữu Loan: Riêng màu tím ấy theo ông/Sim mua lạc tím tang bồng chiều phai/Cái màu tím ấy nhớ ai?/Toan chưa kịp phết đã tai ương rồi! (Màu tím Hữu Loan).
Từ số kiếp các bạn thơ, anh thấy hiện ra số kiếp chính mình: Bỏ rơi câu thơ tiền định/Hoàng đi cát bụi ngấm cay/Biết đâu còn, biết đâu mất/Vật vờ bóng, vật vờ say (Lưu lạc).
Hẳn bạn đọc cũng nhận thấy từ đầu bài đến đây, tôi chỉ trích dẫn giới thiệu về nội dung thơ nhiều, mà chưa khen chê gì câu chữ. Nhưng nếu bạn biết tôi là đệ tử cụ Hoài Thanh, đồng quan điểm với cụ: Trước khi đọc bài bình thơ nào, ta nên đọc những câu thơ trích dẫn. Nếu những câu đó không hay, ta chả cần đọc bài bình đó làm gì! Bởi khi bình thơ, anh vận dụng lý thuyết gì, cũng không thể làm cho câu thơ dở thành hay được!...
Cho nên những câu tôi trích ra ở trên, ít nhất đã qua sự chọn lựa tôi cho là hay hoặc về mặt tâm trạng, hoặc về phẩm chất thơ.
Và không biết bạn có đồng ý với tôi: Đã là thơ hay, ta không quan tâm nhiều đến cách viết mới hay cũ. Hầu hết các bài trong tập đều theo thể thơ truyền thống, nhưng anh viết súc tích, không chữ thừa, câu độn, tránh được sáo ngữ, chống sự đơn điệu về tiết tấu, giai điệu quen thuộc… Anh hay sử dụng thơ 6 chữ là thể thơ khó chấp nhận chữ thừa (so với thơ 8 chữ), thể 6/8 của anh khi đã nhuần nhuyễn, anh luôn đảo nhịp hay ngắt nhịp bất ngờ, dùng hư tự đặt vào trọng âm của câu, tạo tiết tấu, nhịp điệu mới, chống lại sự đơn điệu dễ hình thành ở thể 6/8… (Cháu theo nghiệp chướng cậu - ờ/ Nhưng mà biết đến khi mô phát tài? hoặc: Gà chưa kịp gáy gọi mai/Thức lâu mới biết đêm dài rạc đêm, hoặc: Mốt mai đời sẽ hồng nhan/Lẻ em, chiều cũng cứ chan chứa chiều…).
Đổi mới, đa dạng hoá các thể thơ truyền thống nhất là thơ 6/8, các thi sĩ phía Nam như đi trước chúng ta, qua Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư, Bùi Chí Vinh… Miền Bắc nổi bật ở Nguyễn Duy, trữ tình hay dân gian, nghịch ngợm, Nguyễn Duy đều đạt tới đỉnh…
Thơ Nguyễn Hoài Nhơn viết thật tâm huyết về nỗi buồn một quê hương nghèo khổ, không như thời của chúng tôi (những năm chiến tranh, viết tâm trạng một chút thì dễ buồn, dễ làm yếu lòng người đi chiến đấu, đi làm cách mạng (!), sách báo sẽ không in). Cảm quan trên toàn tập Hồi quang, tôi nghĩ thế này có thể chưa thoả đáng: Nỗi buồn, sự nghèo khổ có phần nào bị tô đậm, đè lên cánh bay của thơ Nguyễn Hoài Nhơn. Điều này không có lỗi ở câu chữ bài này hay bài khác, mà ở cấu trúc toàn tập, giá bớt đi một số bài loại này! Trong khi đó, một số bài như Miền Tây đã làm sáng lên bức tranh thiên nhiên của đất nước thì nên gia tăng: Theo em về xứ cầu cây/Sáo sang sông, sáo lạc bầy gọi nhau/ Theo em về mạn trâm bầu/Nghe cù lao gió dậy màu bùn thơm để đi đến cái đích cuối đường anh từng mong đạt được: Lấy sông làm xứ kinh kỳ/Lấy thơ làm một chút tri âm đời! Hoặc nên điểm xuyết thêm chất lãng tử như Thơ viết ở quán cóc với những câu: Nhì nhằng trong cuộc bể dâu/Rằng thơ chưa nói hết âu sầu đời/Ta đồng bóng với đêm thôi/Đêm bù khú với sao trời làm khuây/Thi nhân tặng gã ăn mày/Câu thơ nặng nỗi lưu đày trần gian.
Hồi quang là tập thơ viết chắc tay, giàu sáng tạo và sâu tâm trạng của một cây bút đã định hình!
Vân Long