Hoạt động phòng chống các rối loạn thiếu iốt có xu hướng trầm lắng

Tin nóng y tế
Mặc dù căn nguyên và bệnh sinh của thiếu iốt đã được biết từ những năm đầu của thế kỉ 20, nhưng cho đến nay, theo WHO/UNICEF/ICCIDD thì thiếu iốt vẫn đang là mối đe doạ tiềm ẩn khoảng 1,6 triệu người trên thế giới, đặc biệt là trẻ em ở các nước đang phát triển.

Iốt - Vi chất không thể thiếu

Iốt là một vi chất cần thiết cho đời sống con người, thiếu iốt có thể xảy ra trong bất kì giai đoạn nào của đời sống, tùy từng giai đoạn phát triển của đời sống con người mà thiếu iốt có tác động khác nhau. Ở tuổi dậy thì và thanh thiếu niên thì biểu hiện thường gặp nhất là bệnh bướu cổ (BC) đơn thuần, tuy nhiên, BC chỉ là một biểu hiện nhẹ nhất của thiếu iốt. Thiếu iốt ở trong giai đoạn bào thai thường gây nên những tổn thương về não bộ như đần thần kinh, đần phù niêm và nhiều tác hại nữa ảnh hưởng đến sự phát triển tâm sinh lý của trẻ. Chính vì khi thiếu iốt gây ra một loạt các tổn thương của hệ thống thần kinh trẻ em nên người ta thường gọi chung là các rối loạn thiếu iốt để nói lên thiếu iốt không chỉ gây nên BC mà tác hại hơn cả là ảnh hưởng đến sự phát triển não bộ của trẻ thơ.

Mặc dù căn nguyên và bệnh sinh của thiếu iốt đã được biết từ những năm đầu của thế kỉ 20, nhưng cho đến nay, theo WHO/UNICEF/ICCIDD thì thiếu iốt vẫn đang là mối đe doạ tiềm ẩn khoảng 1,6 triệu người trên thế giới, đặc biệt là trẻ em ở các nước đang phát triển. Tỷ lệ bướu cổ toàn cầu ước đoán khoảng 12% tương đương khoảng 655 triệu người. Số người mắc BC nhiều nhất ở châu Á, châu Phi. Vùng Đông Nam Á có 486 triệu người sống trong vùng có nguy cơ thiếu iốt, trong đó khoảng 175 triệu người BC chiếm 26,7% số người bị BC trên thế giới.

 Bổ sung i-ốt vào bữa ăn

Sử dụng muối iốt để PCCRLTI

Có nhiều biện pháp PCCRLTI, một trong những biện pháp đó là bổ sung thêm iốt vào muối ăn hàng ngày. Các nghiên cứu trong và ngoài nước đều cho thấy rằng đây là một biện pháp phòng bệnh có hiệu quả nhất, đơn giản nhất và chi phí thấp nhất. Việc bổ sung iốt phải diễn ra thường xuyên đều đặn hàng ngày, hết năm này qua năm khác, hay nói cách khác, việc bổ sung iốt luôn tiếp diễn trong suốt cả đời người. Trong những năm vừa qua, thực tế này đã được chứng minh tại Việt Nam và nước ta là một trong những nước đã đạt được thành tựu kiểm soát CRLTI vào năm 2005.

Cần đẩy mạnh các hoạt động để duy trì kết quả

Chính vì chúng ta đã đạt được mục tiêu đề ra là kiểm soát CRLTI vào năm 2005 nên từ năm 2006 trở lại đây, Dự án phòng chống CRLTI chuyển sang hoạt động PC CRLTI thường xuyên. Các hoạt động này chủ yếu được đưa vào hoạt động thường qui của các tỉnh, với ngân sách của địa phương và được Trung ương hỗ trợ kĩ thuật, hoá chất cần thiết... để duy trì bền vững hoạt động PCCRLTI trong phạm vi cả nước.

Tuy nhiên, do nhiều đặc thù của từng địa phương khác nhau và nhận thức vấn đề thiếu iốt ở một số địa phương khác nhau nên hoạt động PCCRLTI tiếp diễn ở các địa phương cũng khác nhau. Điều đáng lo ngại trong giai đoạn duy trì bền vững này, chúng ta chưa thật sự quan tâm, tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động PCCRLTI, một số nơi phó mặc hoặc chủ quan coi như thanh toán đã xong và thờ ơ với mục tiêu chúng ta đã đạt được nên nguy cơ thiếu iốt tái diễn ở một số nơi - đặc biệt vùng đồng bằng không thể tránh khỏi. Chính vì lí do vậy, chúng ta cần xem xét lại những hoạt động PCCRLTI trong năm vừa qua với mục đích: Đánh giá các hoạt động và nguồn lực của các địa phương trong năm qua tập chung cho  công tác PCCRLTI; Đề xuất những ý kiến, giải pháp với các cấp chính quyền để nâng cao hoạt động PCCRLTI trong thời gian tới.
 

Thực trạng thiếu hụt iốt giai đoạn 2006 - 2010

Năm 2007, độ bao phủ muối iốt (MI) giảm, chỉ còn 88,6% so với 93,2% năm 2005, giảm mạnh nhất là ở các tỉnh phía Nam như TP.HCM 46,4% năm 2007 so với 66,7% năm 2005.

Mức iốt niệu trung vị cũng giảm ở hầu hết các địa phương như Hòa Bình 175mcg/L năm 2007 so với 235mcg/L năm 2005, TP.HCM 59mcg/L năm 2007 so với 95mcg/L năm 2005.

Năm 2008, độ bao phủ MI giảm mạnh xuống còn 70,8%. Chỉ có 23/90, chiếm 25,5% xã điều tra có độ bao phủ muối iốt tối thiểu đạt lớn hơn hoặc bằng 90%. Mức thu nhận iốt giảm mạnh: Median iốt niệu giảm từ 87,7mcg/L xuống còn 60 mcg/L; 71,3% số mẫu thiếu iốt từ nhẹ đến nặng.

Năm 2009, độ bao phủ MI và chế phẩm có iốt đủ tiêu chuẩn phòng bệnh toàn quốc chỉ còn 69,5%.

(Phòng chỉ đạo tuyến - Bệnh viện Nội tiết Trung ương)


Ý kiến của bạn