Vừa qua, tại Hà Nội đã diễn ra Hội thảo khoa học “Từ khuyến cáo đến thực hành lâm sàng trong quản lý xơ phổi tiến triển - Góc nhìn từ Thái Lan đến Việt Nam” với sự tham gia của nhiều chuyên gia trong lĩnh vực hô hấp, bệnh phổi hiếm, chẩn đoán hình ảnh và bệnh nhiễm khuẩn hô hấp.
Hội thảo có sự tham gia của Thầy thuốc Ưu tú, TS.BS Đinh Văn Lượng, Chủ tịch Hội Phổi Việt Nam, Giám đốc Bệnh viện Phổi Trung ương, với vai trò chủ tọa; TTND.GS.TS.BS Đồng Khắc Hưng, Phó Giám đốc chuyên môn Bệnh viện Đa khoa Phương Đông, Giám đốc Trung tâm Hô hấp, Dị ứng và Miễn dịch lâm sàng Quốc tế Phương Đông, với vai trò đồng chủ tọa.

TTƯT.TS.BS. Đinh Văn Lượng – Giám đốc Bệnh viện Phổi Trung ương. Ảnh: Ngọc Hải.
TS.BS Nguyễn Trường Giang, Giám đốc Trung tâm Chẩn đoán hình ảnh và Điện quang can thiệp, Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên; PGS.TS.BS Pailin Ratanawatkul (Bệnh viện Srinagarind, Thái Lan); TS.BS Nguyễn Thị Bích Ngọc, Giám đốc Trung tâm Điều trị bệnh phổi hiếm và các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp, Bệnh viện Phổi Trung ương, cùng nhiều chuyên gia khác.
Bệnh phổi kẽ có thể bị bỏ qua trong thời gian dài
Phát biểu tại hội thảo, TS.BS Đinh Văn Lượng cho biết bệnh phổi kẽ, trong đó có xơ phổi vô căn và xơ phổi tiến triển, là nhóm bệnh phức tạp, đặt ra nhiều thách thức trong chẩn đoán và điều trị. Việc chẩn đoán bệnh phổi kẽ không nên chỉ dựa vào một chuyên khoa. Cần có sự phối hợp giữa bác sĩ lâm sàng, chuyên gia hô hấp, chẩn đoán hình ảnh, chức năng hô hấp và các lĩnh vực liên quan để đưa ra chẩn đoán chính xác, từ đó lựa chọn hướng điều trị phù hợp.
Một vấn đề khác được các chuyên gia lưu ý là chẩn đoán phân biệt bệnh phổi kẽ với bệnh lao. Do một số biểu hiện lâm sàng và hình ảnh có thể chồng lấp, người bệnh cần được đánh giá đầy đủ trước khi đưa ra kết luận và lựa chọn phác đồ điều trị.
Theo TTND.GS.TS.BS Đồng Khắc Hưng, bệnh phổi kẽ trước đây thường được xem là nhóm bệnh hiếm gặp, nhưng hiện ngày càng được quan tâm như một vấn đề mới nổi trong thực hành lâm sàng.

TTND.GS.TS.BS Đồng Khắc Hưng chia sẻ tại Hội thảo khoa học “Từ khuyến cáo đến thực hành lâm sàng trong quản lý xơ phổi tiến triển - Góc nhìn từ Thái Lan đến Việt Nam”. Ảnh: Quỳnh Mai.
Hiện Việt Nam chưa có nghiên cứu dịch tễ học đầy đủ về bệnh phổi kẽ. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên thế giới cho thấy tỷ lệ mắc nhóm bệnh này tuy không cao như bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) hay hen phế quản nhưng có thể ở mức tương đương với ung thư phổi.
Đáng chú ý, một số thể bệnh phổi kẽ tiến triển có tiên lượng xấu. Theo TS.BS Đồng Khắc Hưng, thời gian sống thêm của người bệnh kể từ khi được phát hiện có thể ngắn hơn nhiều so với một số loại ung thư. Đặc biệt, xơ phổi kẽ vô căn và xơ phổi kẽ tiến triển là những thể bệnh cần được phát hiện, theo dõi và điều trị sớm.
Bệnh phổi kẽ là nhóm bệnh gây tổn thương tổ chức kẽ của phổi, bao gồm vùng mô nằm giữa các túi khí và các cấu trúc liên quan. Nhóm bệnh này có hơn 200 bệnh khác nhau, trong đó có xơ phổi tiến triển và viêm phổi tăng cảm. Nếu bệnh tiếp tục tiến triển, tổn thương có thể dẫn tới xơ hóa phổi và suy giảm chức năng hô hấp.
Một khó khăn khác là các triệu chứng ban đầu thường không đặc hiệu. Ho khan và khó thở khi gắng sức là những biểu hiện thường gặp nhưng cũng có thể xuất hiện trong nhiều bệnh lý hô hấp khác. Vì vậy, việc nhận diện nguy cơ và thăm khám chuyên khoa có ý nghĩa quan trọng.
Theo TS.BS Đồng Khắc Hưng, bệnh phổi kẽ có thể được phát hiện sớm, nhưng thực tế tại Việt Nam, nhiều người bệnh chỉ được chẩn đoán khi bệnh đã tiến triển nặng. Khi đó, cơ hội điều trị và cải thiện tiên lượng bị hạn chế.
Để chẩn đoán bệnh phổi kẽ, cần kết hợp biểu hiện lâm sàng với các phương tiện cận lâm sàng. Tại hội thảo, các chuyên gia đặc biệt nhấn mạnh vai trò của HRCT (CT độ phân giải cao) trong đánh giá tổn thương nhu mô phổi và định hướng phân loại bệnh.

Hình ảnh phổi tổn thương. Ảnh từ tài liệu của TS.BS Nguyễn Trường Giang, Giám đốc Trung tâm Chẩn đoán hình ảnh và Điện quang can thiệp, Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên.
Nuôi chim, gia cầm cũng có thể liên quan đến viêm phổi tăng cảm
Tại hội thảo, TS.BS Nguyễn Thị Bích Ngọc cho biết, viêm phổi tăng cảm là một bệnh thuộc nhóm bệnh phổi kẽ. Một trong những yếu tố liên quan là việc tiếp xúc kéo dài với các dị nguyên có nguồn gốc từ chim, gia cầm và môi trường có nấm mốc.
Theo BS Ngọc, thói quen nuôi gà, vịt, chim hoặc làm việc trong môi trường có nhiều bụi hữu cơ có thể làm tăng nguy cơ tiếp xúc với các tác nhân gây viêm phổi tăng cảm. Môi trường ẩm thấp, nhiều nấm mốc cũng là yếu tố cần lưu ý.
Không chỉ những người làm nghề chăn nuôi, một số nhóm lao động thường xuyên tiếp xúc với bụi hữu cơ cũng có nguy cơ, như người làm trong ngành da động vật, giày da, bụi vải, cơ sở giết mổ, kho lạnh hoặc nơi chế biến hạt, ngũ cốc - những môi trường có thể phát sinh nấm mốc và các chất hữu cơ.
Tuy nhiên, các chuyên gia lưu ý không phải cứ nuôi gà, vịt hoặc chim là mắc bệnh. Điều đáng chú ý là khi xuất hiện tình trạng ho kéo dài, đặc biệt trong nhiều tháng không rõ nguyên nhân hoặc không đáp ứng điều trị thông thường, người bệnh nên đến cơ sở chuyên khoa hô hấp để được đánh giá.

Hội thảo được diễn ra với sự góp mặt của nhiêu chuyên gia đầu ngành. Ảnh: Diễm Ly.
Ghép phổi được đặt ra khi bệnh tiến triển nặng
Bên cạnh chẩn đoán sớm, hội thảo cũng đề cập đến các phương án điều trị bệnh phổi kẽ tiến triển.
Theo TS.BS Đinh Văn Lượng, điều trị nhóm bệnh này còn nhiều thách thức. Một số bệnh phổi kẽ chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, trong khi các phương pháp hiện có ở một số trường hợp chủ yếu nhằm kiểm soát hoặc làm chậm quá trình tiến triển, chứ không đồng nghĩa với chữa khỏi hoàn toàn.
Ở giai đoạn nặng, bệnh có thể dẫn đến suy hô hấp và các biến chứng nghiêm trọng. Khi các biện pháp điều trị không còn đáp ứng và người bệnh đủ điều kiện, ghép phổi có thể được xem xét như một phương án điều trị ở giai đoạn cuối.
TS.BS Đinh Văn Lượng cho biết, Bệnh viện Phổi Trung ương đã triển khai ghép phổi được 15 ca. Ông cũng cho biết bệnh viện đang tiếp tục phát triển các kỹ thuật chuyên sâu trong lĩnh vực hô hấp, trong đó có điều trị ung thư phổi, phẫu thuật lồng ngực và các kỹ thuật cận lâm sàng.
Bệnh viện Phổi Trung ương đang phối hợp với các cơ sở y tế trong nghiên cứu, triển khai những hướng tiếp cận mới, trong đó có liệu pháp tế bào (cell therapy). Theo ông Lượng, việc lựa chọn các phương pháp điều trị đối với người bệnh phổi tiến triển cần căn cứ vào tình trạng cụ thể và chỉ định chuyên môn.
Từ các nội dung được trao đổi tại hội thảo, các chuyên gia cho rằng quản lý bệnh phổi kẽ cần được thực hiện theo hướng phát hiện sớm - chẩn đoán chính xác - đánh giá mức độ tiến triển - điều trị và theo dõi lâu dài, đồng thời tăng cường phối hợp đa chuyên khoa.
Việc cập nhật các khuyến cáo quốc tế, trong đó có ATS/ERS 2025, cùng kinh nghiệm thực hành từ Việt Nam và Thái Lan được kỳ vọng góp phần chuẩn hóa hơn nữa cách tiếp cận bệnh phổi kẽ và xơ phổi tiến triển trong thực hành lâm sàng.