Sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần tháng 9/1969 chiếm lĩnh trang 1 nhiều tờ báo lớn trên thế giới lúc bấy giờ. Báo Le Monde (Thế giới - Pháp) đăng trang trọng một bài báo dài của Jean Lacouture. Tác giả (sinh năm 1924) là nhà báo, nhà văn, nhà sử học được coi là một trong những chuyên gia thành thạo nhất ở châu Âu về tình hình Việt Nam. Ông là tác giả nhiều bộ tiểu sử về các nhân vật kiệt xuất của nước Pháp và của thế giới thế kỷ XX. Ông được gặp và làm việc với Bác Hồ ngay từ năm 1945 và nhiều lần sau đó. Năm 1967, cuốn Hồ Chí Minh của ông ra mắt bạn đọc. Đó là cuốn tiểu sử đầu tiên người nước ngoài viết về Hồ Chủ tịch, trong đó ông dành nhiều trang ca ngợi tài năng và đức độ của Bác Hồ, và tiên đoán sự thất bại của đế quốc Mỹ trong chiến tranh Việt Nam hồi ấy mới đi vào giai đoạn quyết liệt nhất. Jean Lacouture là tác giả được mời phụ trách mục từ Hồ Chí Minh trên nhiều bộ Đại bách khoa toàn thư uy tín nhất châu Âu như Encyclopedia Britanica (Anh), Encyclopedia Universalis (Pháp)... Chúng tôi trích dịch dưới đây một vài đoạn trong bài báo của ông nhan đề Hồ Chí Minh, đăng trên tờ Le Monde số ra ngày 5/9/1969.
Cho dù điều ấy có vẻ kỳ quặc, nhân vật cuối cùng trong số những “người cha sáng lập” nên Quốc tế cộng sản, người duy nhất của Komintern những năm 1924-1926 mà tới nay vẫn còn giữ vai trò quan trọng trong nền chính trị thế giới, đến khi từ trần tiểu sử của ông vẫn còn một vài mảng chưa thật sáng tỏ. Dù sao người ta vẫn được biết ông sinh ra tại Kim Liên, một làng nhỏ thuộc tỉnh Nghệ An (...).
Năm 1917 ông đến Paris (...) Những người sống trong căn phòng chật hẹp áp mái phố Marché-aux - Patriarches, thành lập báo Le Paria, tờ báo chống chủ nghĩa thực dân mà ông đồng thời là người sáng lập, người viết xã luận, người vẽ biếm họa..., ông tập hợp chung quanh tòa soạn những nhà dân tộc chủ nghĩa đầu tiên của Bắc Phi, rồi các cuộc hội họp bị mật thám theo dõi riết, những truyền đơn bí mật, những bài đăng trên báo Đời sống Công nhân và báo Người bình dân, chiến dịch tuyên truyền chống chủ nghĩa quân phiệt, sự tham gia vào đảng Xã hội Pháp, cuối cùng tham dự Đại hội Tours, nơi một chàng thanh niên gầy yếu trạc ba mươi tuổi có tên là Nguyễn Ái Quốc tung ra lời kêu gọi hừng hực lửa đòi giải phóng các dân tộc thuộc địa, đó cũng là diễn đàn để ông bày tỏ thái độ ủng hộ khuynh hướng chính trị của Marcel Cachin và Paul-Vaillant Couturier (hai lãnh tụ đảng Cộng sản Pháp - PQ).
Từ bấy, ông là một người cộng sản, và sẽ là người cộng sản suốt đời. Suốt đời, ông phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản thế giới - giai cấp vô sản “đích thực”, vì những người da màu và trước hết vì nhân dân Việt Nam.
Thời ấy Nguyễn Ái Quốc là một người mảnh khảnh, lưng hơi như còng đi quá sớm, vẻ mặt khắc khổ, đôi mắt sáng long lanh và lời nói ngay thẳng. Phần lớn những người quen biết ông đều giữ lại kỷ niệm về một chàng thanh niên hấp dẫn, phần nào cực đoan và vô cùng nhạy cảm. Tại những đêm thao thức trong căn phòng hẹp ấy ở Paris, ông đã viết tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (...). Nhưng ông phải đến cho bằng được Moscou, trước khi trở về tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng ở châu Á... Sau thời gian học tập, nghiên cứu và hội họp tại Moscou, ông sang Trung Quốc... Là người có uy tín lớn, ông tập hợp đến bên mình những thanh niên Việt Nam yêu nước, thành lập Việt Nam Thanh niên cách mạng hội, xuất bản tờ báo ra hằng tuần, báo Thanh niên, báo này sẽ truyền bá học thuyết cách mạng dân tộc hơn là mác xít, đặt cơ sở cho việc thành lập Đảng cộng sản Việt Nam (...).
(...) Chắc là nhằm “bình thường hóa” các quan hệ chính thức với Quốc dân đảng Trung Hoa, nơi Nguyễn Ái Quốc vốn bị coi như là “một trong những nhà hoạt động cộng sản đáng sợ nhất”, ông chọn mình cái tên mới: Hồ Chí Minh.
Sự nghiệp lớn bắt đầu. Hồ Chí Minh cùng các đồng chí của ông trở về Đông Dương (...). Ngày 2/9/1945, Tuyên ngôn độc lập được công bố, nước cộng hòa ra đời. Người Hà Nội lần đầu được biết nhà lãnh đạo đất nước là cụ Hồ Chí Minh. Ai thế nhỉ? Nguyễn Ái Quốc đấy, giới thạo tin nhất thì thào... Chẳng bao lâu người dân Hà Nội biết rõ Hồ Chí Minh là người như thế nào. Chưa đến một tháng, uy tín của ông đã đạt đỉnh cao. Ai cũng yêu quý ông. Mọi người đều gọi ông là Cụ Hồ (...).
... (Hôm tôi được Hồ Chủ tịch tiếp) chẳng ai thấy ông bước vào, càng không ai nghe bước chân ông đi. Đôi dép lốp lướt nhẹ trên tấm thảm trải căn phòng rộng của viên thống sứ trước đây, nay nhà lãnh đạo tiếp khách nước ngoài. Tiếng Pháp của ông hơi pha chút giọng gì đó rất khó xác định, hình như là giọng tiếng Anh hoặc tiếng Quan thoại. Nhưng con người ông mới thật sự gây ấn tượng... Điều làm mọi người chú ý trước hết là đôi mắt sáng một cách lạ kỳ dưới hàng lông mày rậm, vầng trán mênh mông và mái tóc hoa râm phần nào thưa thớt, khuôn mặt ấy và cả vóc dáng ông nữa đều toát ra một phong thái cực kỳ đáng kính.
Vừa đặt mình xuống chiếc ghế tựa lót đệm dày, hai chân bắt chéo, cử chỉ tự nhiên, ông bắt đầu có pha chút mỉa mai: “Một dân tộc như các bạn, đã cung cấp cho toàn thế giới học thuyết về tự do, cho dù các bạn rồi đây có làm gì đi nữa các bạn vẫn tìm thấy ở chúng tôi những người bạn; này bạn có biết không, thưa ông bạn, năm nào tôi cũng say mê đọc lại Victor Hugo hay Michelet (nhà văn và nhà sử học Pháp nổi tiếng hùng biện – PQ)... Ngôn ngữ các vị ấy chẳng bao giờ đánh lừa ai, đó là ngôn ngữ của người dân thường nước các bạn, điều lạ lùng là nó rất gần gũi rất anh em với ngôn ngữ người dân thường nước tôi... Này ông bạn, làm sao mà chủ nghĩa thực dân có thể tồi tệ đến mức làm thay đổi con người ta đến mức ấy nhỉ?”. Người bó sát trong chiếc áo khoác màu nâu xám đã sờn, Cụ Hồ gợi cho chúng tôi hình ảnh một nhà nho dung dị đáng kính, nay buộc phải khoác tấm áo người cách mạng để làm sứ mệnh mới của mình.
Nhà báo Jean Lacouture. |
Bằng lối xử sự như vậy, đi vào thế giới và nhất là vào lòng nhân dân Việt Nam nhân cách “Bác Hồ”, vị chủ tịch quý mến mà hai bàn tay lúc nào cũng sẵn cam, sẵn kẹo chia cho các cháu nhi đồng, con người mãi mãi là một người hoạt động vùng chiến khu, với chiếc áo khoác sờn và đôi dép lốp thủng, tối nằm ngủ cùng mọi người trên chiếc chiếu manh (...).
Chỉ có ông Hồ mới được tất cả mọi người gọi bằng “Cụ”với nội hàm kính trọng nhất. Ông sống như một người dân thường dễ tính mà cách xử sự lại kiên quyết chẳng mấy khác Lênin. Đã bao lần những người đối thoại với ông cảm nhận được điều đó, cuối một buổi chuyện trò thật thoải mái, tưởng chừng mọi trở ngại (giữa hai phía hội đàm) đã tan biến mất rồi, bỗng dưng bằng một câu nói gọn gàng gây ấn tượng, ông bày tỏ cho mọi người biết lập trường của vị lãnh tụ cách mạng không dễ gì bị xóa đi bởi các nụ cười xã giao qua lại. Một tối tháng 9/1946, ở Paris, ông nói với Marius Moutet (Bộ trưởng xã hội trong Chính phủ Pháp) đang ra sức thuyết phục ông hãy ký với Pháp một thỏa ước: “Vâng, vấn đề này có thể giải quyết trong 3 tháng hoặc trong... 30 năm. Nhưng nếu các bạn áp đặt chiến tranh với chúng tôi, bạn có thể giết chết 10 người chúng tôi trong khi chúng tôi chỉ có thể gây thương vong cho một người của bạn. Song cả với cái giá ấy đi nữa, người chiến thắng rốt cuộc vẫn là chúng tôi”.
(...) Dù thế nào đi nữa, sau sự kiện đêm 19/12/1946 (toàn quốc kháng chiến), đầu năm 1947 người ta lại thấy Hồ Chí Minh lãnh đạo quân du kích ở chiến khu Việt Bắc (...). Từ chiến tranh du kích năm 1947, qua các trận giáp chiến đầu tiên tại biên giới (chiến dịch biên giới 1950, nơi quân ta đánh tan các binh đoàn của hai đại tá Pháp Lepage và Charton – PQ), các sư đoàn của tướng Giáp tập dượt để rồi san bằng (quân đồn trú Pháp) tại Điện Biên Phủ. Và ngày 21/7/1954, sau Hội nghị Genève, nước Việt Nam lại ra đời lần nữa song bị (các cường quốc) chia cắt, và những người chiến thắng chỉ còn lại một nửa nước nơi mà sự thiếu thốn mọi thứ buộc phải thực thi chính sách thắt lưng buộc bụng...
Nhà báo Phan Quang