Đối với người Việt, trang trí không chỉ là một sở thích, thói quen, mà còn là một nét đẹp văn hóa truyền thống. Có thể nói, chúng ta đang kế thừa một kho tàng vô giá của người xưa thể hiện qua họa tiết, đường nét được lưu giữ trong những công trình kiến trúc, điêu khắc cổ. Chỉ có điều, việc duy trì, nuôi dưỡng các giá trị văn hóa cổ truyền là một thách thức lớn, khi mà cuộc sống thay đổi từng ngày.
Nền tảng giàu có
Thói quen trang trí tràn lấp trên bề mặt tác phẩm phản ánh những đặc thù riêng trong mỹ cảm người Việt cổ. Nó cho thấy người nghệ nhân quan tâm bình đẳng tới mọi điểm trên bề mặt tác phẩm. Điều này một mặt thể hiện ý thức cầu toàn của người thợ, mặt khác, nó cũng phản ánh đời sống tinh thần thong thả, không gấp gáp. Một nghiên cứu khác cũng cho thấy, có thể do ít chịu sức ép đòi hỏi phải nhanh chóng hoàn thành sản phẩm nên những người nghệ nhân Việt đã hình thành nên một thói quen khá phổ biến, đó là dùng họa tiết phủ kín các bề mặt thay vì tạo ra nhiều khoảng trống lớn xen kẽ. Biểu tượng rồng thời Lý là một trong những ví dụ điển hình. Đây là một trong những biểu tượng có tính đặc trưng nhất cho nghệ thuật cổ của người Việt. Khác biệt lớn của rồng thời Lý với biểu tượng rồng của các triều đại và quốc gia khác là ở tính phóng khoáng, cách điệu cao và đặc biệt là ở thân rồng tràn lấp một cách thoải mái khắp bề mặt trang trí cho thấy tinh thần người nghệ nhân ung dung và tự do sáng tạo theo ý thích của mình.
Hình ảnh rồng thời Lý được chế tác từ đất sét hiện lên tinh tế, là một trong những biểu tượng đặc trưng cho nghệ thuật cổ của người Việt.
Có lẽ khác với Nhật Bản và Trung Quốc - 2 nước có nền tảng hội họa phong phú bậc nhất châu Á, hội họa dân gian cổ Việt Nam vận dụng rất ít không gian ba chiều (ngay cả khi cách thức này cũng rất phổ biến ở phương Tây). Các nghệ nhân Việt cổ thậm chí hầu như không có ý thức cố gắng tả bóng để làm nổi bật hình khối các vật thể trong tranh. Trái lại, họ tìm cách phẳng hóa sự vật. Những sự vật vốn dĩ không phẳng trong đời sống, khi vào hình họa được cách điệu hóa để trở nên phẳng một cách hợp lý theo ý thức thẩm mỹ của người sáng tạo. Biểu tượng chim lạc trên các mặt trống đồng cổ là một ví dụ.
Chính sự khác biệt đó đã hình thành phong cách riêng và ảnh hưởng sâu đến mỹ thuật Việt Nam cho đến ngày hôm nay. Họa tiết cổ của người Việt đã khiến bao thế hệ nghệ nhân, nhà khảo cổ và những nhà văn hóa phải ngưỡng mộ, say sưa nghiên cứu và duy trì, không ngoại trừ cả những nhà nghiên cứu nước ngoài. Hình thức trang trí của người Việt có thể ứng dụng trên mọi mặt phẳng, kể cả lĩnh vực thời trang.
Giàu có, linh hoạt và đặc sắc là vậy, nhưng họa tiết cổ sẽ tồn tại như thế nào trong cuộc sống hiện đại? Điều này khiến các nhà nghiên cứu không khỏi lo lắng. Bên cạnh đó, việc nâng cao nhận thức và khả năng cảm thụ của con người đương thời đối với các giá trị mỹ thuật dân gian là vô cùng cấp thiết. Có ý kiến cho rằng, nếu thiếu sự thấu hiểu và khả năng cảm thụ thì việc tu tạo cũng chẳng khác gì phá hoại.
Nỗ lực duy trì
Để việc bảo toàn vốn cổ được phổ biến sâu và rộng thì cách nhanh chóng và hiệu quả nhất chính là tác động trực tiếp đến thế hệ trẻ. Có vẻ như các trường mỹ thuật tại Việt Nam đang thể hiện tốt mục đích đào tạo của họ - đó là kế thừa và sáng tạo. Một tín hiệu vui đến với giới mỹ thuật Việt nói riêng và những người yêu hội họa nói chung, đó là thế hệ trẻ hiện nay đang thể hiện ý thức duy trì vốn cổ không chỉ bằng lời nói mà bằng những hành động thiết thực. 300 tác phẩm được trưng bày tại triển lãm Mỹ thuật ứng dụng của 100 sinh viên Trường ĐH Mỹ thuật TP.HCM sau chuyến đi thực tế 1 tháng tại Hội An đã khẳng định sự “lên ngôi” của những vốn cổ trầm tích đang có nguy cơ bị mai một.
Tại cuộc triển lãm 300 tác phẩm của sinh viên sáng 26/1/2015, thạc sĩ Nguyễn Đào Trường Nghi khẳng định: “Đi tìm vốn cổ cho mỹ thuật ứng dụng, các bạn sinh viên sẽ có thêm nhiều kinh nghiệm trong sử dụng hoa văn, họa tiết cho các ngành nghề như: thiết kế thời trang, đồ họa, quảng cáo... Tiếp xúc, len lỏi vào tận những góc khuất nhất của đời sống, đến mọi vùng miền và gặp gỡ nhiều đối tượng khác nhau sẽ tạo sự hứng khởi trong học tập và tự xây dựng được ý tưởng độc đáo, năng động cho sinh viên mỹ thuật qua lớp trầm tích vô giá của các nền văn hóa cổ xưa”.
TS. Cung Dương Hằng - Trưởng khoa Mỹ thuật ứng dụng bày tỏ: “Văn hóa cổ của các dân tộc Chăm, Việt, Khmer rất phong phú. Mỗi loại hình đều có đặc trưng riêng của từng dân tộc. Để khai thác vốn cổ quý báu đó phải có lòng say mê, tự chắt lọc thường xuyên hoặc qua đó gợi mở những đề tài lạ ứng dụng vào đời sống xã hội và góp phần bảo lưu cho thế hệ mai sau. Khoa Vector vốn cổ cũng là nét độc đáo riêng của Trường ĐH Mỹ thuật TP.HCM...”.
Hy vọng triển lãm Mỹ thuật ứng dụng của 100 sinh viên Trường ĐH Mỹ thuật TP.HCM sẽ là một sự khởi đầu may mắn cho hành trình tìm kiếm và duy trì vốn xưa của thế hệ trẻ Việt Nam.
Nam Phương