TS Nguyễn Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh cho biết, theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội không chỉ là quan điểm, tư tưởng, học thuyết lý luận mà trước hết là phong trào thực tiễn, hoạt động thực tiễn của nhân dân. Chủ nghĩa xã hội không chỉ là cuộc vận động mà còn phải đưa chủ nghĩa xã hội vào đời sống hàng ngày. Chủ nghĩa xã hội không chỉ là chế độ xã hội được xác lập trên phạm vi quốc gia, dân tộc ở tầm vĩ mô mà còn được thực hiện trên các lĩnh vực, ở các cấp độ của đời sống xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm, chủ nghĩa xã hội là xã hội trong đó vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, ai cũng có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc.
Mấy chục năm qua công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên thế giới và ở Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu, song cũng có không ít hạn chế, bất cập, khó khăn. Sự nghiệp đổi mới 40 năm qua vừa tạo ra những điều kiện tiền đề vừa đặt ra những yêu cầu khách quan phải đưa công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đi vào chiều sâu để hiện thực hóa sinh động các giá trị xã hội chủ nghĩa trong đời sống hàng ngày, ở các cấp độ, các lĩnh vực đời sống xã hội của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Trước yêu cầu đó, theo định hướng của Đảng và gợi ý của Tổng Bí thư Tô Lâm, các địa phương như Hải Phòng, Đà Nẵng, Lào Cai, Hà Nội, Hưng Yên, Quảng Ninh… đã khẩn trương thí điểm xây dựng chủ nghĩa xã hội gắn với xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, xây dựng trường học xã hội chủ nghĩa, xây dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa.
"Theo đó, có thể hiểu xã, phường xã hội chủ nghĩa hiện nay là mô hình phát triển xã hội ở cơ sở trong kỷ nguyên mới, nơi những giá trị và đặc trưng của chủ nghĩa xã hội Việt Nam từng bước được hiện thực hóa trong đời sống hằng ngày; được xây dựng trên nền tảng hệ thống chính trị vững mạnh, quản trị dân chủ, pháp quyền, hiện đại; kinh tế phát triển bền vững gắn với tiến bộ, công bằng xã hội; nhân dân thực sự làm chủ, có cuộc sống ấm no, văn minh, hạnh phúc và điều kiện phát triển toàn diện", TS Nguyễn Anh Tuấn nói.
Sự gợi mở chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm và sự khẩn trương của Hà Nội đối với việc thí điểm xây dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa đã nói lên sự kỳ vọng, mong muốn của người dân Hà Nội, nhân dân cả nước, yêu cầu, đòi hỏi của lịch sử và sự tin tưởng của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước đối với thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
TS Nguyễn Anh Tuấn cho biết, so với mô hình hợp tác xã thời kỳ trước đổi mới, xã, phường xã hội chủ nghĩa hiện nay nhiều điểm mới.
Thứ nhất, về nền tảng kinh tế và động lực phát triển: Chuyển từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, chủ yếu dựa vào sở hữu tập thể sang phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế, trong đó có kinh tế tư nhân; giải phóng sức sản xuất, phát huy mọi nguồn lực, lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực.
Thứ hai, về tổ chức và phương thức quản trị: Chuyển từ quản lý hành chính tập trung, bao cấp theo tinh thần Đảng, Nhà nước lo cho tất cả sang quản trị dân chủ, pháp quyền, hiện đại, phân cấp, phân quyền, Đảng, Nhà nước và Nhân dân cùng làm; phát huy tính chủ động, sáng tạo của chính quyền cơ sở và quyền làm chủ thực chất của nhân dân.
Thứ ba, về mục tiêu và thước đo phát triển: Chuyển từ chú trọng xây dựng hình thức sở hữu tập thể sang đa dạng hóa các hình thức sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối; thực hiện kế hoạch và bảo đảm nhu cầu cơ bản sang phát triển toàn diện, bao trùm, bền vững; lấy con người làm trung tâm, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, chất lượng sống và hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu, thước đo.
GS Vũ Minh Giang nhận định, mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa cũng có những thách thức nhất định. Một trong số đó là chính quyền cơ sở cần đóng vai trò là "hệ điều tiết" ra sao để giải quyết bài toán "Làng trong phố, phố trong làng" đúng tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW, giữ gìn bản sắc mà vẫn đảm bảo tính hiện đại của một đô thị xã hội chủ nghĩa.
Ông cho rằng, bài toán "làng trong phố, phố trong làng" không đơn thuần là vấn đề quy hoạch không gian, mà sâu xa hơn là bài toán bảo tồn bản sắc văn hóa và duy trì sự cố kết cộng đồng trong quá trình đô thị hóa. Với những địa bàn như Đông Anh, nơi dự kiến đón lượng dân cư rất lớn trong những năm tới, nguy cơ không chỉ là đình, chùa, di tích và cảnh quan truyền thống bị thu hẹp, mà còn là sự đứt gãy các mối quan hệ cộng đồng, mai một phong tục, lối sống và ký ức lịch sử của cư dân bản địa.
Trong bối cảnh đó, chính quyền cơ sở phải thực sự trở thành "hệ điều tiết" giữa bảo tồn và phát triển, giữa cư dân bản địa và cư dân mới, giữa di sản truyền thống và nhịp sống đô thị hiện đại. Trước hết, cần tích hợp bảo tồn di sản văn hóa, không gian công cộng, thiết chế văn hóa và cảnh quan làng truyền thống vào quy hoạch đô thị ngay từ đầu, thay vì chỉ xử lý khi di sản đã bị tổn hại.
Đồng thời, phải duy trì các không gian sinh hoạt cộng đồng như đình, chùa, nhà văn hóa, lễ hội và các hình thức thực hành văn hóa dân gian; phát huy vai trò của các tổ chức cộng đồng, nghệ nhân và người cao tuổi trong truyền dạy giá trị truyền thống cho thế hệ trẻ. Mặt khác, chính quyền cần tạo điều kiện để cư dân mới tham gia đời sống văn hóa địa phương, hình thành những cộng đồng đô thị gắn kết, văn minh và tôn trọng sự khác biệt.
Tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam đòi hỏi phải coi văn hóa là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực phát triển. Vì vậy, hiện đại hóa không có nghĩa là xóa bỏ những dấu ấn lịch sử, còn bảo tồn không đồng nghĩa với giữ nguyên mọi cấu trúc cũ.
Một đô thị xã hội chủ nghĩa hiện đại phải là nơi người dân được sống trong điều kiện tiện nghi, tiếp cận dịch vụ công chất lượng, đồng thời vẫn nhận ra cội nguồn, bản sắc và cảm giác thuộc về cộng đồng của mình. Khi chính quyền cơ sở làm tốt vai trò điều tiết ấy, "làng trong phố, phố trong làng" sẽ không còn là sự đối lập giữa cũ và mới, mà trở thành mô hình phát triển hài hòa, trong đó di sản tạo chiều sâu cho đô thị và đô thị mở ra sức sống mới cho di sản.
GS Vũ Minh Giang nhắc đến chỉ số hạnh phúc khi xây dựng mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa. Luôn tính tới chỉ số hạnh phúc là bước chuyển trong tư duy cầm quyền, quản trị xã hội. Nhìn từ góc độ lịch sử và thể chế, tôi cho rằng việc đưa hạnh phúc và mức độ hài lòng của người dân vào hệ tiêu chí đánh giá chính quyền cơ sở phản ánh một chuyển biến quan trọng trong tư duy quản trị: từ chỗ chú trọng bộ máy vận hành như thế nào sang đánh giá bộ máy tạo ra những giá trị gì cho con người.
"Trong lịch sử Việt Nam, sự thịnh trị của một triều đại không chỉ được nhìn nhận qua lãnh thổ mở rộng, quân đội hùng mạnh hay kho tàng sung túc, mà còn qua đời sống yên ổn của dân chúng, sản xuất phát triển và xã hội có trật tự. Tư tưởng "khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc" thời Trần là một minh chứng tiêu biểu cho nhận thức rằng sức mạnh quốc gia phải bắt nguồn từ đời sống nhân dân. Đến thời đại Hồ Chí Minh, quan điểm lấy dân làm gốc tiếp tục được phát triển thành yêu cầu mọi hoạt động của Nhà nước phải hướng tới lợi ích và hạnh phúc của Nhân dân", GS Vũ Minh Giang cho biết.
Điểm mới hiện nay là những giá trị vốn được xác lập như mục tiêu chính trị và đạo lý trị nước đang được chuyển hóa thành các tiêu chí quản trị cụ thể, có thể đo lường, theo dõi và kiểm chứng. Nếu chỉ số kinh tế phản ánh quy mô tăng trưởng, các chỉ tiêu hành chính phản ánh tiến độ thực hiện nhiệm vụ, thì chỉ số hạnh phúc và mức độ hài lòng của người dân có thể giúp đánh giá sâu hơn chất lượng phát triển và hiệu quả phục vụ của chính quyền.
Đặc biệt, khi cấp xã, phường trở thành nơi trực tiếp tổ chức cung ứng dịch vụ công, bảo đảm an sinh, chăm sóc sức khỏe, phát triển văn hóa và giải quyết các vấn đề dân sinh, tiếng nói của người dân phải trở thành một nguồn thông tin quan trọng trong quá trình đánh giá và điều chỉnh chính sách.
Tuy nhiên, GS Vũ Minh Giang cũng nhìn nhận, từ góc độ nghiên cứu thể chế, cần nhấn mạnh rằng đưa hạnh phúc vào tiêu chí đánh giá không chỉ là bổ sung một chỉ số mới, mà phải làm thay đổi cách chính quyền xác định mục tiêu, tổ chức công việc và chịu trách nhiệm trước Nhân dân. Cán bộ không thể chỉ hoàn thành nhiệm vụ trên giấy tờ, mà phải quan tâm đến việc người dân có thực sự được hưởng lợi hay không; thủ tục có thuận tiện hơn không; người yếu thế có được chăm lo không; môi trường sống có an toàn, văn minh và giàu bản sắc không. Khi đó, sự hài lòng của người dân trở thành một kênh phản hồi trực tiếp, giúp chính quyền nhận diện những bất cập mà các báo cáo hành chính thông thường có thể chưa phản ánh đầy đủ.
"Đối với mục tiêu chỉ số hạnh phúc tối thiểu 9,5/10 trong mô hình thí điểm, theo tôi, điều quan trọng không chỉ là con số đặt ra, mà là phương pháp đo lường và cơ chế bảo đảm tính trung thực. Cần khảo sát độc lập, công khai kết quả, phân tích sự khác biệt giữa các nhóm dân cư và tạo điều kiện để người dân phản ánh cả những vấn đề chưa hài lòng. Không nên biến chỉ số hạnh phúc thành một thành tích hình thức hoặc tạo áp lực khiến cán bộ tìm cách nâng điểm. Hạnh phúc vốn là một khái niệm đa chiều, bao gồm thu nhập, sức khỏe, an sinh, môi trường, quan hệ cộng đồng, cơ hội phát triển và cảm nhận về công bằng. Vì vậy, chỉ số tổng hợp phải được hỗ trợ bởi những tiêu chí cụ thể, có khả năng kiểm chứng và gắn với trách nhiệm giải trình của chính quyền", GS Vũ Minh Giang nhận định.
Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, đây có thể trở thành một bước chuyển quan trọng từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ và kiến tạo phát triển. Một chính quyền mạnh không chỉ là chính quyền có khả năng ban hành và thực thi quyết định, mà còn là chính quyền biết lắng nghe, tự điều chỉnh và tạo dựng niềm tin xã hội. Nếu trong lịch sử, sự yên lòng của trăm họ là nền tảng của quốc gia thịnh trị, thì ngày nay, hạnh phúc và sự hài lòng của người dân cần trở thành thước đo thực chất của chất lượng quản trị. Khi người dân cảm nhận rõ thành quả phát triển trong cuộc sống hằng ngày, niềm tin sẽ được củng cố, sự đồng thuận xã hội được tăng cường và sức mạnh của thể chế được nuôi dưỡng từ chính nền tảng lòng dân.
Bộ Chính trị đã có hệ thống văn bản mang tính bước ngoặt trước khi Thành ủy Hà Nội ban hành Đề án triển khai thí điểm mô hình "xã, phường xã hội chủ nghĩa" tại xã Phúc Thịnh và xã Thư Lâm (khu vực Đông Anh).
Đó là Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới đánh dấu bước chuyển căn bản từ nhận thức sang thực hành.
Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị giải quyết khâu đột phá then chốt về công tác cán bộ trong kỷ nguyên mới. Cán bộ phải phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị xác định bước ngoặt chiến lược trong công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân với định hướng chuyển mạnh từ chữa bệnh sang chủ động phòng bệnh từ cơ sở.
Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam khẳng định văn hóa là nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực to lớn và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững đất nước.
Dựa trên hệ thống văn bản và thực tiễn đã và đang chứng minh, có thể định hình được một nền y tế xã hội chủ nghĩa đậm bản sắc Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Theo TS.BS Nguyễn Đình Hưng - Phó Giám đốc Sở Y tế Hà Nội, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Thành ủy Hà Nội đã ban hành Nghị quyết số 16-NQ/TU ngày 8/7/2026 về xây dựng và triển khai thí điểm mô hình "xã, phường xã hội chủ nghĩa" trên địa bàn Thành phố. Theo đó Hà Nội đã ban hành Đề án triển khai thí điểm mô hình "xã, phường xã hội chủ nghĩa" với quan điểm: Mô hình "xã, phường Xã hội chủ nghĩa" phải thể hiện rõ bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa từ cấp gần dân nhất.
Các chủ trương về Y tế nhằm bảo đảm an sinh xã hội, công bằng và phát triển bao trùm như sau: "Bảo đảm mỗi người dân được tiếp cận đầy đủ, thuận tiện và bình đẳng các dịch vụ thiết yếu, tổ chức theo nguyên tắc "gần dân – dễ tiếp cận – một điểm đến" gắn với không gian sống và nền tảng số. Ưu tiên chăm lo các nhóm yếu thế theo hướng không chỉ trợ cấp mà tạo sinh kế, cơ hội tiếp cận dịch vụ và hòa nhập cộng đồng."
Theo TS.BS Nguyễn Đình Hưng, y tế cơ sở trở thành tấm lá chắn nhân văn và là phòng tuyến bảo vệ sức khỏe nhân dân chính là diện mạo của y tế xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
TS.BS Nguyễn Đình Hưng cho biết, Sở Y tế được giao nhiệm vụ chủ trì phát triển y tế cơ sở, thực hiện quản lý, chăm sóc sức khỏe người dân tại địa bàn, lấy dự phòng làm chính, bảo đảm tiếp cận công bằng dịch vụ. Nếu phát triển đúng theo chủ trương đó "Y tế cơ sở chắc chắn trở thành tấm lá chắn nhân văn và là phòng tuyến bảo vệ sức khỏe nhân dân" chính là diện mạo của y tế xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới. Bức tranh đó được thể hiện như sau:
- Phủ kín sự chăm sóc từ sớm, từ xa ngay tại cộng đồng: Trạm Y tế xã, phường không còn là "Trạm chung chuyển" mà phải thực sự chuyển mình thành chủ động là "Người gác cổng". Thông qua hệ thống dữ liệu số, quản lý tốt các bệnh mạn tính ngay từ gốc để giảm tỷ lệ bệnh nặng chuyển tuyến. Từ đó dịch chuyển mạnh mẽ sang y tế dự phòng chủ động và quản lý sức khỏe trọn đời.
- Nguồn lực đầu tư tương xứng: Để y tế cơ sở chủ động thực hiện đủ chức năng, nhiệm vụ đó, cần một chiến lược đầu tư đồng bộ về hạ tầng, trang thiết bị, danh mục thuốc bảo hiểm y tế. Chính sách đãi ngộ xứng đáng để giữ chân nhân sự giỏi bám trụ lâu dài tại cơ sở, đội ngũ nhân lực tuyến cơ sở trong kỷ nguyên mới không chỉ vững chuyên môn mà còn giỏi kỹ năng giao tiếp, gắn bó mật thiết với cộng đồng. Y tế thông minh với diện mạo mới đòi hỏi sự xóa nhòa khoảng cách công nghệ thông qua các giải pháp khám chữa bệnh từ xa (Telehealth), liên thông dữ liệu y tế thông qua hồ sơ sức khỏe điện tử.
- Sự công bằng trong tiếp cận dịch vụ - Xóa nhòa khoảng cách đối tượng, vùng miền - Bản chất nhân văn của hệ thống: Dù ở nội đô hay vùng ngoại vi, mỗi người dân đều có quyền tiếp cận các dịch vụ y tế ban đầu đạt chuẩn chất lượng như nhau. Ưu tiên chăm lo các nhóm yếu thế. Tính xã hội chủ nghĩa được đo lường bằng việc không để bất kỳ ai bị bỏ lại phía sau vì rào cản địa lý hay kinh tế.
"Diện mạo của y tế cơ sở xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới là một hệ thống các Trạm Y tế "Chủ động - Vững chuyên môn - Thông minh - Gần dân". Đó là nơi người dân đặt trọn niềm tin đầu tiên khi cần chăm sóc sức khỏe, thể hiện rõ nhất tính ưu việt của một nền y tế vì con người và lấy con người làm trung tâm" - TS.BS Nguyễn Đình Hưng nói.
Cũng theo Phó Giám đốc Sở Y tế Hà Nội Nguyễn Đình Hưng, nếu nhìn từ góc độ trải nghiệm thực tế của người dân, sự thay đổi của y tế cơ sở không đo đếm bằng những khái niệm hay đề án trên giấy, mà được cảm nhận trực tiếp qua 4 chuyển biến rõ rệt ngay tại nơi họ sinh sống:
- Không gian khám chữa bệnh khang trang, hiện đại: Trạm Y tế được đầu tư đồng bộ về cơ sở vật chất, phòng khám sạch sẽ, thiết bị hiện đại, người dân cảm nhận được sự chuyên nghiệp, tin tưởng và được đón tiếp chu đáo.
- Chăm sóc sức khỏe tốt hơn ngay gần nhà: Thay vì phải lên tuyến trên xếp hàng lấy thuốc, chờ bác sĩ đầu ngành khám, người dân sẽ được hưởng chế độ đó ngay gần nhà. Danh mục thuốc Bảo hiểm Y tế tại trạm được mở rộng. Nhờ hệ thống Telehealth (y tế từ xa), bác sĩ cơ sở có thể hội chẩn trực tiếp với các chuyên gia đầu ngành, do đó cấp cứu nhanh hơn, kịp thời hơn mà không phải di chuyển vất vả
- Quản lý, phục vụ thuận tiện nhờ Y tế thông minh: Mọi thông tin sức khỏe của người dân và gia đình được mã hóa, lưu trữ trên sổ sức khỏe điện tử liên thông toàn hệ thống. Bác sĩ Trạm y tế quản lý theo dõi sức khỏe toàn diện; Người dân tự tra cứu dữ liệu sức khỏe của bản thân.
- Thái độ, năng lực của y bác sĩ chuyên nghiệp và gần dân hơn: Nhờ chính sách luân phiên, tăng cường bác sĩ tuyến trên về cơ sở và đào tạo liên tục, đội ngũ y bác sĩ tại trạm ngày được củng cố chuyên môn, thái độ phục vụ chuyên nghiệp, tạo sự gắn kết và tin cậy sâu sắc với cộng đồng.
TS.BS Nguyễn Đình Hưng tin tưởng: "Nghị quyết 72-NQ/TW về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân; Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi; Luật thủ đô và rất nhiều các Nghị định của Chính phủ đang tạo tiền đề, nguồn lực và sức bật cho y tế cơ sở. Tôi tin với sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, sự vào cuộc tích cực của chính quyền các cấp cũng như sự đồng hành, ủng hộ của người dân, diện mạo của y tế cơ sở sẽ sớm thay đổi."
TS.BS Nguyễn Đình Hưng: "Tôi tin với sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, sự vào cuộc tích cực của chính quyền các cấp cũng như sự đồng hành, ủng hộ của người dân, diện mạo của y tế cơ sở sẽ sớm thay đổi."
Chủ trương thí điểm xây dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa cần được nhìn từ mục tiêu thực hiện khát vọng phát triển mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra từ năm 1945. Sau tám thập kỷ xây dựng Đất nước, trong đó có bốn thập kỷ đổi mới, mục tiêu xuyên suốt vẫn là nâng cao đời sống nhân dân, để người dân được sống ấm no, hạnh phúc cả về vật chất lẫn tinh thần.
Theo ông Nguyễn Túc, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc khóa X, Việt Nam, khi nói đến chủ nghĩa xã hội, điều quan trọng không phải là những khái niệm lý luận lớn lao mà là làm sao để người dân thực sự được hưởng những thành quả của chế độ. Việc xây dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa cần được cụ thể hóa bằng những mục tiêu thiết thực, gắn trực tiếp với đời sống hằng ngày của người dân.
Ông Nguyễn Túc cho rằng, có thể hiểu mục tiêu của chủ nghĩa xã hội qua tinh thần dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Ông nhắc lại tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giá trị của độc lập, tự do gắn với đời sống nhân dân. Theo đó, người dân chỉ thực sự cảm nhận được giá trị của độc lập, tự do khi có ăn, có mặc và được học hành.
Từ cách tiếp cận này, ông Nguyễn Túc cho rằng, xây dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa chính là đưa những mục tiêu lớn vào thực tiễn ở cấp cơ sở, nơi gần dân nhất. Trước hết, cần tạo việc làm, nâng cao thu nhập, giúp người nghèo từng bước thoát nghèo, người có mức sống khá tiếp tục vươn lên, đồng thời tạo điều kiện để người dân làm giàu chính đáng. Cùng với phát triển kinh tế, cần quan tâm đến an sinh xã hội, tinh thần tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng.
Một yêu cầu quan trọng khác là thực hiện dân chủ thực chất. Theo ông Nguyễn Túc, người dân phải được biết, được bàn, được làm, được kiểm tra, được giám sát và được hưởng thụ. Nếu chỉ dừng lại ở những khái niệm lý luận mà không chuyển hóa thành những việc làm cụ thể, người dân sẽ khó hiểu và khó cảm nhận được ý nghĩa của mô hình.
Theo ông, để đánh giá hiệu quả xây dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa, cần xây dựng hệ thống tiêu chí cụ thể trên từng lĩnh vực, từ kinh tế, văn hóa, dân chủ đến an ninh, trật tự xã hội. Các mục tiêu phải được cụ thể hóa thành chỉ tiêu có thể đánh giá, tránh tình trạng chỉ nêu định hướng chung chung.
Trong đó, ông cho rằng dân chủ là tiêu chí quan trọng hàng đầu. Muốn có đoàn kết thực sự thì phải có dân chủ thực sự. Bên cạnh đó là nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân, bảo đảm an sinh xã hội, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và không ngừng nâng cao trình độ học vấn.
Ông Nguyễn Túc cũng lưu ý không nên đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện tất cả ngay từ đầu. Đây là mô hình thí điểm, cần được triển khai từng bước, thường xuyên đánh giá, rút kinh nghiệm và hoàn thiện tiêu chí trong quá trình thực hiện. Kinh nghiệm từ các chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh cho thấy những mục tiêu ban đầu sẽ dần trở nên cụ thể, thiết thực hơn khi được triển khai trong thực tiễn.
Sự khác biệt mà người dân cảm nhận rõ nhất khi sống trong xã, phường xã hội chủ nghĩa trước hết phải là đời sống vật chất được bảo đảm. Tiếp đó là đời sống tinh thần, văn hóa và trình độ dân trí được nâng cao. Trong bối cảnh hiện nay, việc tạo điều kiện để người dân tiếp cận các phương thức mới, từng bước trở thành công dân số, cũng là một nội dung cần được quan tâm.
Ông cho rằng, các mục tiêu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, hướng tới năm 2045 trở thành nước phát triển, cần được cụ thể hóa bằng những chỉ tiêu rõ ràng về thu nhập, trình độ học vấn và chất lượng cuộc sống. Hạnh phúc của người dân không thể chỉ được đề cập như một khái niệm chung chung mà cần gắn với những điều kiện thực tế, có thể xem xét và đánh giá.
Đánh giá về việc Hà Nội thí điểm xây dựng mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa tại hai xã Thư Lâm và Phúc Thịnh, ông Nguyễn Túc cho rằng đây là bước đi đột phá, thể hiện vai trò tiên phong của Thủ đô. Thông qua quá trình thí điểm, các cơ quan Trung ương có thể xem xét kết quả, rút kinh nghiệm và nghiên cứu khả năng phổ biến mô hình tới những địa phương khác.
Theo ông, điều quan trọng là mô hình phải được triển khai thực chất, có kết quả cụ thể trong đời sống nhân dân, qua đó tạo cơ sở để đánh giá, hoàn thiện và nhân rộng khi đủ điều kiện.
TS Nguyễn Anh Tuấn nhận định, hạnh phúc là nội dung cấu thành hệ giá trị được khẳng định trong tiêu ngữ của Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa nói chung, xây dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa nói riêng chính là phương thức "dùng tài dân, sức dân mưu lợi ích cho dân"; phương thức tạo lập không gian, môi trường để "nhân dân mưu cầu hạnh phúc".
Việc đưa chỉ số hạnh phúc vào đánh giá mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa thể hiện sâu sắc bản chất nhân văn của chủ nghĩa xã hội: phát triển vì con người, lấy hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu cao nhất. Về lý luận, đây là sự cụ thể hóa quan điểm lấy con người làm trung tâm, khẳng định tăng trưởng kinh tế là phương tiện, không phải đích đến. Về thực tiễn, chỉ số này giúp chuyển trọng tâm quản trị từ thành tích kinh tế sang chất lượng sống, công bằng xã hội và sự hài lòng của Nhân dân.
Để bảo đảm an sinh và nâng cao chất lượng sống thực tế, giúp người dân thực sự cảm thấy hạnh phúc, TS Nguyễn Anh Tuấn cho rằng cấp ủy và chính quyền cơ sở cần tập trung vào ba giải pháp trọng tâm:
Thứ nhất, phát triển sinh kế bền vững, tạo việc làm, nâng cao thu nhập; hỗ trợ các nhóm yếu thế, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo. Chú trong đầu tư phát triển, trong đó có phát triển kinh tế tư nhân, phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, tạo nhiều việc làm để "ai cũng có công ăn việc làm", phát triển bản than, chăm lo gia đình và góp phần phát triển xã hội.
Thứ hai, bảo đảm an sinh xã hội toàn diện, nâng cao chất lượng y tế, giáo dục, nhà ở, môi trường sống và khả năng tiếp cận dịch vụ công.
Thứ ba, phát huy dân chủ, xây dựng chính quyền phục vụ, kịp thời giải quyết những vấn đề dân sinh, lấy sự hài lòng và hạnh phúc của Nhân dân làm thước đo hiệu quả quản trị.
"Tất nhiên, những giải pháp trọng tâm trên sẽ khó phát huy hết công năng, vai trò đột phá nếu không có sự hỗ trợ mạnh mẽ, quyết liệt từ các đột phá của Thành ủy và Chính quyền thành phố, trong đó có đột phá về giao thông và hạ tầng kinh tế xã hội", TS Nguyễn Anh Tuấn cho biết.
Theo TS Nguyễn Anh Tuấn, đẩy mạnh chính quyền số và Đề án 06 ở cấp xã, phường chính là phương thức quan trọng để hiện thực hóa bản chất vì Nhân dân phục vụ của chế độ xã hội chủ nghĩa. Thông qua số hóa, liên thông dữ liệu, đơn giản hóa thủ tục hành chính, người dân được tiếp cận dịch vụ công nhanh chóng, minh bạch, công bằng và thuận tiện hơn. Quan trọng hơn, chuyển đổi số phải lấy người dân làm trung tâm, không để nhóm yếu thế bị bỏ lại phía sau, góp phần xây dựng chính quyền gần dân, hiểu dân, phục vụ Nhân dân ngày càng tốt hơn.
Theo TS Nguyễn Anh Tuấn, để xã, phường thực sự trở thành "pháo đài vững chắc" của hệ thống chính trị hướng tới mốc 2030–2045, Hà Nội cần tập trung vào mấy đột phá chiến lược sau:
Thứ nhất, đột phá về phân cấp, phân quyền, gắn trao quyền với phân bổ nguồn lực, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực.
Thứ hai, đột phá về cơ chế huy động nguồn lực, phát huy sức mạnh của Nhân dân, doanh nghiệp và cộng đồng theo tinh thần "dùng tài dân, sức dân để mưu lợi ích cho dân"; xây dựng, hoàn thiện cơ chế thí điểm, đánh giá, nhân rộng các mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa hiệu quả.
Thứ ba, đột phá về quản trị, xây dựng chính quyền số, quản trị dựa trên dữ liệu, lấy sự hài lòng và hạnh phúc của Nhân dân làm thước đo hiệu quả.
Thứ tư, đột phá về xây dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa phải gắn với xây dựng con người thủ đô xã hội chủ nghĩa như cách nói lúc sinh thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. "Theo tôi, đây là đột phá chiến lược rất quan trọng. Con người thủ đô, từ người dân bình thường đến đội ngũ cán bộ công chức, viên chức phải thực sự tận tụy, năng động, sáng tạo, văn minh, nhân ái, sâu sắc, thanh lịch không chỉ ở công sở, trong tham gia giao thông, trong các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại, trong gia đình, nhà trường, cộng đồng dân cư và trên không gian mạng. Con người thủ đô xã hội chủ nghĩa vừa là chủ thể vừa là nội dung tiêu chí xây dựng, đánh giá về xã, phường xã hội chủ nghĩa của Hà Nội hiện nay", TS Nguyễn Anh Tuấn cho biết.
Với ý nghĩa đó, hiện thực hóa các giá trị xã hội chủ nghĩa gắn với xây dựng con người xã hội chủ nghĩa không chỉ là việc riêng của xã Phúc Thịnh và xã Thư Lâm và cũng không phải là việc riêng của Hà Nội. Song với vai trò, vị trí đặc biệt của Thủ đô Hà Nội trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Hà Nội sẽ gương mẫu đi đầu trong đổi mới, phát triển sáng tạo và hiện thực hóa sinh động các giá trị tốt đẹp, ưu việt của chủ nghĩa xã hội Việt Nam ở cơ sở, từ cơ sở trong kỷ nguyên mới.
Thí điểm mô hình "xã, phường xã hội chủ nghĩa" tại Hà Nội không phải là một cuộc trình diễn lý thuyết, mà là cuộc thử nghiệm lòng dũng cảm của Đảng bộ Thủ đô trước lịch sử.
Chủ nghĩa xã hội dường như đã và đang hiện hữu ngay ở cấp hành chính gần dân nhất. Ở đó, niềm tin của Nhân dân được xây dựng bằng nụ cười của người cao tuổi lần đầu chạm tay vào ứng dụng số, ánh mắt an tâm của những người yếu thế khi được chăm sóc y tế miễn phí tận tình.
Nguyện ước thiêng liêng của Đảng trước Dân tộc chưa bao giờ thay đổi. Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, khi độc lập tự do gắn liền với hạnh phúc và sức khỏe Nhân dân, mô hình y tế và quản trị cơ sở xã hội chủ nghĩa chính là câu trả lời thuyết phục nhất cho năng lực quản trị quốc gia hiện đại.
Từ những "tế bào xã hội" khỏe mạnh, tràn đầy sức sống tại Thủ đô Hà Nội, một "phòng tuyến lòng dân" kiên cố đang được đắp xây. Đó không chỉ là điểm tựa vững chắc để vượt qua mọi bão giông thử thách, mà còn là nguồn động lực nội sinh mạnh mẽ đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển phồn vinh, hạnh phúc và sánh vai cường quốc năm châu.















