Ngày 14/10, Bệnh viện Từ Dũ (TPHCM) cho biết, đơn vị vừa phối hợp với Bệnh viện Nhi đồng 1 thực hiện thành công ca thông tim can thiệp bào thai thứ 17. Đây là trường hợp đặc biệt phức tạp khi thai nhi mắc dị tật tim bẩm sinh nghiêm trọng, quá trình can thiệp gặp nhiều khó khăn và xuất hiện biến chứng ngoài dự kiến.
Thai phụ L.T.K.X. (30 tuổi, quê Vĩnh Long) mang thai tự nhiên lần thứ hai, dự sinh ngày 29/12. Trong những lần khám thai ở quý I, các bác sĩ chưa phát hiện bất thường. Kết quả xét nghiệm sàng lọc trước sinh NIPT cũng cho thấy nguy cơ thấp. Khi thai được 16 tuần 6 ngày, kết quả siêu âm phát hiện thai nhi mắc dị tật không lỗ van động mạch phổi, vách liên thất kín, hở van ba lá nặng và thiểu sản thất phải mức độ trung bình.

Ca can thiệp thông tim xuyên bào thai thứ 17. Ảnh: BVCC.
Đây là trường hợp được phát hiện bất thường tim sớm nhất trong số 17 ca thông tim can thiệp bào thai mà hai bệnh viện đã thực hiện. Thai phụ được theo dõi song song tại Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Nhi đồng 1. Kết quả chọc ối, phân tích nhiễm sắc thể không ghi nhận bất thường.
Từ tuần thai 17 đến tuần 26, các bác sĩ liên tục theo dõi diễn tiến cấu trúc tim, đánh giá chức năng thất phải và hội chẩn với Giáo sư Gerald Tulzer - nguyên Giám đốc Trung tâm Tim trẻ em Linz (Áo), chuyên gia trong lĩnh vực can thiệp tim bào thai.
Sau quá trình đánh giá, các chuyên gia thống nhất thời điểm can thiệp phù hợp nhất là khi thai được 28–29 tuần, nhằm cải thiện dòng máu qua van động mạch phổi, tạo cơ hội phát triển tuần hoàn hai thất sau sinh.
Ngày 8/10, khi thai được 28 tuần 2 ngày, kết quả hội chẩn liên viện xác định tình trạng thiểu sản thất phải đã tiến triển nặng. Tuy nhiên, các bác sĩ nhận định thai nhi vẫn còn cơ hội điều trị nên quyết định thực hiện thủ thuật nong van động mạch phổi ngay trong bụng mẹ.
Tim thai gặp biến chứng khi can thiệp
Ngày 9/10, cuộc can thiệp diễn ra với sự phối hợp của các chuyên gia hai bệnh viện. Sau khi gây vô cảm cho mẹ và thai nhi, ê-kíp điều chỉnh tư thế thai, đưa kim 18G xuyên qua thành bụng mẹ, cơ tử cung và thành ngực thai nhi để tiếp cận buồng thoát thất phải.
Khó khăn xuất hiện khi dây dẫn chuyên dụng không thể đi qua van động mạch phổi do cấu trúc van quá dày và chắc. Trước tình huống này, các bác sĩ nhanh chóng hội chẩn tại chỗ, chuyển sang kỹ thuật "kim trong kim", sử dụng kim 20G đưa qua hệ thống kim 18G nhằm tăng khả năng xuyên qua van. Tuy nhiên, ê-kíp vẫn không thể vượt qua cấu trúc van bất thường.

Ca can thiệp diễn ra trong 2 tiếng. Ảnh: BVCC.
Đáng lo ngại, trong quá trình thực hiện thủ thuật, tim thai xuất hiện biến chứng ngoài mong muốn, buộc các bác sĩ phải tạm ngừng can thiệp để hồi sức. Sau hồi sức, sức co bóp cơ tim cải thiện, nhịp tim thai dần ổn định và dấu hiệu chèn ép tim không còn.
Trước tình huống phức tạp, ê-kíp tiếp tục hội chẩn, cân nhắc kỹ lợi ích và nguy cơ trước khi quyết định thực hiện phương án cuối cùng, sử dụng trực tiếp kim 18G xuyên qua van động mạch phổi.
Khi đầu kim vượt qua được van, các bác sĩ đưa dây dẫn và bóng nong kích thước 3,0 × 10 mm vào đúng vị trí, tiến hành bơm bóng với áp lực 10 bar.
Kết quả kiểm tra ngay sau thủ thuật ghi nhận dòng máu từ thất phải đã lưu thông qua van động mạch phổi lên động mạch phổi. Nhịp tim thai ổn định ở mức 145 lần/phút, sức co bóp cơ tim tốt. Kết quả này đánh dấu bước tiến quan trọng, giúp tái lập dòng máu qua van động mạch phổi, mở thêm cơ hội phát triển tim cho thai nhi.
Tín hiệu tích cực sau ca can thiệp tim bào thai phức tạp
Bốn giờ sau thủ thuật, sức khỏe thai phụ ổn định, siêu âm ghi nhận tim thai đập đều, dòng máu qua van động mạch phổi lưu thông tốt. Sau 24 giờ, thai nhi tiếp tục phát triển phù hợp với tuổi thai. Kết quả siêu âm cho thấy dòng máu từ thất phải lên động mạch phổi vẫn được duy trì, với vận tốc 350 cm/giây.

Các bác sĩ phải liên tiếp thay đổi kế hoạch vì tim gặp biến chứng. Ảnh: BVCC.
Đến sáng 13/10, sau 5 ngày can thiệp, thai phụ sinh hoạt bình thường, thai cử động tốt. Kết quả siêu âm tim thai chưa ghi nhận dấu hiệu nguy cơ mới. Thai phụ tiếp tục được theo dõi tại Bệnh viện Từ Dũ nhằm đánh giá sự phát triển của tim thai và phát hiện sớm những bất thường có thể xuất hiện.
Ca thứ thông tim bào thai thứ 17 cho thấy vai trò của việc hội chẩn liên viện, theo dõi liên tục tình trạng thai nhi và linh hoạt thay đổi phương án kỹ thuật khi gặp tình huống ngoài dự kiến.
Dù kết quả lâu dài vẫn cần được đánh giá trong những tháng cuối thai kỳ và sau khi trẻ chào đời, thành công bước đầu của ca can thiệp đã mở thêm cơ hội điều trị cho thai nhi mắc dị tật tim bẩm sinh nghiêm trọng.