Gốm Việt chưa lên được tầm cao mới

Văn hóa – Giải trí
Cuộc “tổng kiểm kê tài sản” của ngành mỹ thuật Việt Nam đã khép lại bằng triển lãm chuyên đề cuối cùng mang tên “Gốm nghệ thuật Việt Nam 2008” vừa bế mạc ngày 5/1/2009 tại Bảo tàng Mỹ thuật.

Cuộc “tổng kiểm kê tài sản” của ngành mỹ thuật Việt Nam đã khép lại bằng triển lãm chuyên đề cuối cùng mang tên “Gốm nghệ thuật Việt Nam 2008” vừa bế mạc ngày 5/1/2009 tại Bảo tàng Mỹ thuật. Nếu các triển lãm tranh lụa, sơn mài, sơn dầu cho thấy thành tựu đáng kể và những bước tiến khá dài trên con đường phát triển, hội nhập của mỗi loại hình thì với gốm, hình như vẫn còn thiếu nhiều nhân tố để nó có thể vươn lên một vị thế mới trong đời sống nghệ thuật đương đại.

Dòng chảy không ngừng

Nếu coi gốm là chất liệu hội họa thì có lẽ không một chất liệu hội họa nào có bề dày lịch sử như nó. Từ hàng chục thế kỷ nay, gốm Việt nổi tiếng khắp năm châu bốn biển với những làng gốm đã có tên trên bản đồ gốm thế giới như Chu Đậu, Bát Tràng, Thổ Hà, Phù Lãng, Biên Hòa, Lái Thiêu... Tuy mỗi giai đoạn, gốm Việt lại phát triển với những đặc trưng riêng như gốm thô thời kỳ đầu, gốm men ngọc đời Lý, gốm sành rồi gốm hoa lam đời Lê, gốm hoa nâu đời Trần... nhưng thời kỳ nào cũng có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nghệ thuật và kỹ thuật để tạo nên những dấu ấn đặc sắc. Nhiều sản phẩm gốm đã trở thành những tuyệt tác mỹ thuật, có mặt trong các bảo tàng lớn trên thế giới nhờ cách phủ men độc đáo, ẩn chứa sự công phu về mặt chế tác, chuẩn mực trong tạo hình, kỹ lưỡng trong kỹ thuật, hài hòa trong bố cục tổng thể...

Khách tham quan triển lãm gốm.
 
Cho đến nay, dù trải qua nhiều khúc thăng trầm nhưng gốm Việt vẫn giữ được những tinh hoa của cha ông truyền lại. Tuy vậy, có một thực tế là nghề gốm cổ truyền của ta hiện nay khó mà phát triển trên bình diện thương mại bởi không những không thể cạnh tranh nổi với gốm sứ Trung Quốc mà ngay cả với gốm sứ Nhật Bản, Hàn Quốc, chúng ta cũng khó mà theo kịp về quy mô sản xuất và mở rộng thị trường. Cái mà gốm Việt có thể cạnh tranh, đó là sự sáng tạo nghệ thuật và những nét đặc trưng dân tộc. Chính vì thế, bên cạnh các làng nghề truyền thống và những nghệ nhân tài hoa gắn bó với nghề theo mạch cha truyền con nối, những năm gần đây đã hình thành và phát triển một lực lượng họa sĩ trẻ, được học tập bài bản tại các trường mỹ thuật, yêu thích và say mê gốm, đã chọn chất liệu này làm chủ đạo trong sự nghiệp theo đuổi nghệ thuật của mình. Họ cũng là những người mạnh dạn kết hợp các yếu tố hội họa khác vào gốm như điêu khắc, tranh ghép, tranh vẽ, sắp đặt... với mong muốn tạo nên những sản phẩm gốm có tính nghệ thuật và giá trị thẩm mỹ cao, không chỉ phục vụ đời sống dân dụng mà còn đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ ngày càng cao của công chúng, trở thành tác phẩm nghệ thuật thực sự.

Nhưng chưa ra được sông rộng

Mục đích và mong muốn là vậy nhưng xem ra những gì mà các nghệ sĩ gốm Việt làm được chưa thực sự như mong muốn. Triển lãm gốm nghệ thuật toàn quốc vừa tổ chức nhằm “kiểm kê” những thành tựu của gốm Việt trong 5 năm trở lại đây đã cho thấy điều này.

Là một triển lãm có quy mô lớn nhất từ trước đến nay về loại hình mỹ thuật này, với 216 tác phẩm của 134 tác giả trên cả nước, có sự góp mặt của nhiều nghệ sĩ nghệ nhân gốm tên tuổi như Tạ Quang Bạo, Lê Ngọc Hân, Nguyễn Xuân Thành, Lê Liên, Bảo Toàn... Cũng có một số tác phẩm cho thấy sự sáng tạo của người nghệ sĩ như Chăn trâu của Lê Ngọc Hân, Jazz của Phan Thanh Sơn, Mùa hạn của Vũ Xuân Tình, Cầu mưa của Nguyễn Toán... Vậy nhưng, theo nhận xét của ông Trần Khánh Chương – Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam thì “đa phần các tác phẩm chỉ dừng lại ở nghệ thuật trưng bày là chính”. Về mặt chủng loại, chất liệu và tạo hình cũng không phong phú và chưa có sự đột phá. Phần lớn là tác phẩm gốm sành nâu, chỉ có một phần nhỏ là gốm sành trắng có tô màu. Nhìn chung, ý tưởng nghệ thuật của các tác phẩm còn nghèo nàn và không mới. Một phần có lẽ bởi triển lãm chưa phát huy được thế mạnh của các vùng miền. Nhiều địa phương có nghệ thuật gốm phát triển như Biên Hòa, Bình Dương... không thấy tham gia.

Nhà phê bình mỹ thuật Nguyễn Đỗ Bảo trong một cuộc tọa đàm về gốm nghệ thuật được tổ chức cách đây chưa lâu từng đặt ra câu hỏi: “Gốm nghệ thuật hiện đại Việt Nam đang đứng ở đâu?”. Rõ ràng đây là một ưu tư lớn trước thực tế ngành gốm chưa có nhiều tác phẩm mang tính nghệ thuật đích thực mà phần lớn mới chỉ dừng lại ở một thứ đồ trưng bày xa xỉ.

Với lịch sử phát triển lâu đời và nổi tiếng như gốm, sáng tạo về mặt kỹ thuật đã đạt đến đỉnh cao. Vì vậy, để gốm có được vị thế mới, vượt lên tầm những vật dụng tinh xảo, những đồ trang trí đẹp mắt, trở thành không thể thiếu trong bộ sưu tập của những người đam mê nghệ thuật trên thế giới thì cần phải có sự sáng tạo trong chất liệu và cách tân vượt bậc về mặt nghệ thuật. Điều này đồng nghĩa với việc cần phải có một thế hệ nghệ nhân - nghệ sĩ tài hoa thổi hồn thời đại mới cho gốm. Thế nhưng, trong số những nghệ nhân lành nghề, không nhiều người muốn dồn tâm cho sáng tác gốm nghệ thuật trong khi gốm dân dụng dễ kiếm sống hơn. Với giới hội họa, để có được những tác phẩm gốm nghệ thuật độc bản, tâm sức bỏ ra nhiều nhưng cơ hội bán được tác phẩm và trở thành nổi tiếng không cao. Vì vậy mà không có nhiều họa sĩ thực sự muốn “sống chết” với chất liệu này. Mấy năm gần đây, bộ môn gốm “xuống hạng” rất nhiều trong các trường mỹ thuật bên cạnh sự đi lên của các loại hình khác.

Nhìn sang chất liệu sơn mài, cũng bắt đầu từ vai trò trang trí giờ sơn mài đã trở thành chất liệu hội họa độc đáo, làm nên một loại hình nghệ thuật hoàn thiện. Đó là bởi công sức của mấy thế hệ họa sĩ tài năng và quãng thời gian hơn nửa thế kỷ. Thời gian ắt là sẽ có. Còn lại tất cả hy vọng đặt vào niềm say mê với gốm của lớp họa sĩ - nghệ nhân trẻ ngày nay, mong sẽ có những cái tên như Trần Văn Cẩn, Nguyễn Gia Trí, Đinh Văn Thành, Tô Ngọc Vân... từng làm rạng danh sơn mài để gốm Việt tìm được chỗ đứng mới trong lòng bè bạn thế giới như nó đã từng có từ hàng trăm năm trước!

Tâm Duyên


Ý kiến của bạn