Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ trong dự phòng lây nhiễm, mở rộng tiêm chủng, điều trị và truyền thông. Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam vẫn thuộc nhóm các quốc gia có gánh nặng viêm gan B và viêm gan C cao trên thế giới, việc tăng cường phát hiện sớm, mở rộng điều trị và bảo đảm khả năng tiếp cận dịch vụ y tế được xác định là những nhiệm vụ ưu tiên trong giai đoạn tới.
Tiêm chủng tiếp tục là nền tảng trong phòng ngừa viêm gan B
Theo báo cáo của Cục Phòng bệnh, chương trình tiêm chủng mở rộng tiếp tục ghi nhận nhiều kết quả tích cực. Hầu hết các địa phương đã đạt mục tiêu về tỷ lệ trẻ được tiêm vaccine viêm gan B liều sơ sinh trong vòng 24 giờ sau sinh và tỷ lệ trẻ dưới 1 tuổi được tiêm đủ ba liều vaccine. Đây là biện pháp có hiệu quả cao trong phòng lây truyền viêm gan B từ mẹ sang con - con đường lây truyền chủ yếu của bệnh tại Việt Nam.
TS. Nguyễn Thị Thúy Vân, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho biết, trên phạm vi toàn cầu, số ca nhiễm mới viêm gan B đã giảm khoảng 32% trong giai đoạn 2015-2024, chủ yếu nhờ mở rộng chương trình tiêm chủng. Tuy nhiên, độ bao phủ vacine tại nhiều quốc gia vẫn chưa đạt mức cần thiết để hoàn thành mục tiêu loại trừ viêm gan vào năm 2030.

TS. Nguyễn Thị Thúy Vân, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).
Việt Nam vẫn đối mặt với gánh nặng bệnh tật rất lớn
Mặc dù đã có nhiều tiến bộ, viêm gan virus vẫn là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây xơ gan, ung thư gan và tử vong tại Việt Nam. Theo Cục Phòng bệnh, cả nước hiện ước tính có khoảng 6,5 triệu người nhiễm viêm gan B và gần 1 triệu người nhiễm viêm gan C. Mỗi năm ghi nhận khoảng 80.000 trường hợp xơ gan và ung thư gan cùng khoảng 40.000 ca tử vong liên quan đến viêm gan virus. Ung thư gan hiện là loại ung thư phổ biến thứ hai tại Việt Nam.
Ở quy mô toàn cầu, WHO cho biết Việt Nam nằm trong nhóm 10 quốc gia có số người mắc viêm gan B mạn tính và viêm gan C cao nhất thế giới. Đáng chú ý, số ca tử vong do viêm gan B hiện đã vượt số ca tử vong do HIV và tiếp tục có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây.
'Điểm nghẽn' trong sàng lọc, chẩn đoán và điều trị
TS. Đoàn Thị Thùy Linh, Cục Phòng bệnh cho biết, hiện vẫn còn khoảng trống trong phát hiện và quản lý người bệnh. Tỷ lệ phụ nữ mang thai được sàng lọc viêm gan B vẫn thấp hơn mục tiêu quốc gia. Năm 2025, tỷ lệ này chỉ đạt khoảng 53%, trong khi mục tiêu đặt ra là tối thiểu 70%. Một trong những nguyên nhân là xét nghiệm sàng lọc chưa được bảo hiểm y tế chi trả, nên nhiều phụ nữ chỉ được xét nghiệm khi nhập viện khi sinh, làm giảm hiệu quả các biện pháp dự phòng lây truyền từ mẹ sang con.
Bên cạnh đó, năng lực xét nghiệm và điều trị vẫn tập trung chủ yếu ở tuyến tỉnh và tuyến trung ương. Tuyến y tế cơ sở còn hạn chế về năng lực chẩn đoán, trong khi chi phí xét nghiệm tải lượng virus, chi phí chuyển mẫu và mức đồng chi trả thuốc điều trị vẫn là rào cản đối với nhiều người bệnh.

TS. Đoàn Thị Thùy Linh, Cục Phòng bệnh. Ảnh PV.
WHO cũng chỉ ra rằng, khoảng trống về chẩn đoán và điều trị vẫn là thách thức chung trên toàn cầu. Đến năm 2024, mới có khoảng 27% người nhiễm viêm gan B được chẩn đoán và chỉ 4,3% được điều trị. Đối với viêm gan C, tỷ lệ được chẩn đoán đạt 36% và tỷ lệ được điều trị mới đạt 20%, thấp hơn nhiều so với mục tiêu loại trừ bệnh vào năm 2030.
Hướng tới kế hoạch phòng, chống viêm gan virus giai đoạn 2026-2030
Từ những kết quả đạt được và các tồn tại sau giai đoạn 2021-2025, các chuyên gia cho rằng, cần tiếp tục xây dựng kế hoạch phòng, chống viêm gan virus giai đoạn 2026-2030 theo hướng tăng cường đầu tư cho y tế cơ sở, mở rộng xét nghiệm và điều trị, cải thiện chính sách chi trả của bảo hiểm y tế đối với thuốc và xét nghiệm, đồng thời xây dựng hệ thống dữ liệu liên thông giữa tiêm chủng, xét nghiệm và điều trị.
Song song với đó, việc đẩy mạnh truyền thông sức khỏe, ứng dụng công nghệ số và giảm kỳ thị đối với người mắc viêm gan virus được xác định là những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao tỷ lệ phát hiện sớm, tăng khả năng tiếp cận điều trị và góp phần hiện thực hóa mục tiêu loại trừ viêm gan virus như một mối đe dọa sức khỏe cộng đồng vào năm 2030.
Mời độc giả xem thêm:
