Những nội dung trên được quy định tại Luật Nhà giáo, đạo luật lần đầu tiên quy định toàn diện về vị trí, vai trò, quyền, nghĩa vụ và các chế độ, chính sách đối với đội ngũ nhà giáo. Luật chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, trong đó đáng chú ý là các cơ chế đặc thù về tuổi nghỉ hưu, tiền lương, đãi ngộ và phát triển nghề nghiệp của giáo viên.
Cơ chế đặc thù về nghỉ hưu đối với đội ngũ giáo viên
Theo Luật Nhà giáo, tuổi nghỉ hưu của nhà giáo được thực hiện theo quy định của Bộ luật Lao động và các quy định pháp luật có liên quan. Trên cơ sở đó, luật bổ sung các cơ chế linh hoạt, phù hợp với đặc thù nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên.
Đáng chú ý, nhà giáo làm việc tại các cơ sở giáo dục mầm non, nếu có nguyện vọng, có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn so với tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện bình thường, nhưng không quá 5 tuổi. Trường hợp giáo viên mầm non có thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 15 năm trở lên thì không bị giảm tỷ lệ phần trăm hưởng lương hưu do việc nghỉ hưu trước tuổi.

Luật Nhà giáo quy định tiền lương nhà giáo được xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp. Ảnh minh hoạ
Ở chiều ngược lại, Luật Nhà giáo cho phép thực hiện chế độ nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ và nhà giáo làm việc trong các lĩnh vực chuyên sâu, đặc thù. Việc kéo dài thời gian công tác được thực hiện trên cơ sở nhu cầu của cơ sở giáo dục, nhà giáo có đủ sức khỏe, tự nguyện và đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định.
Thời gian nghỉ hưu ở tuổi cao hơn được xác định không quá 5 năm đối với nhà giáo có trình độ tiến sĩ, không quá 7 năm đối với nhà giáo có chức danh phó giáo sư và không quá 10 năm đối với nhà giáo có chức danh giáo sư. Trong thời gian thực hiện chế độ nghỉ hưu ở tuổi cao hơn, nhà giáo không giữ chức vụ quản lý. Chính phủ quy định chi tiết trình tự, thủ tục thực hiện và việc áp dụng đối với các ngành, lĩnh vực chuyên sâu, đặc thù.
Tiền lương, đãi ngộ và thay đổi về chức danh nhà giáo
Bên cạnh chính sách nghỉ hưu, Luật Nhà giáo dành nhiều quy định về tiền lương và chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ nhà giáo. Theo đó, tiền lương của nhà giáo trong các cơ sở giáo dục công lập được xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp; Chính phủ quy định chi tiết chính sách tiền lương đối với nhà giáo trên cơ sở nguyên tắc này.
Ngoài tiền lương, nhà giáo còn được hưởng các khoản phụ cấp và hỗ trợ theo tính chất công việc và theo vùng, bao gồm phụ cấp đặc thù, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp ưu đãi, trợ cấp vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, trợ cấp giáo dục hòa nhập, thâm niên, lưu động và các chế độ hỗ trợ khác theo quy định.
Luật cũng quy định nhà giáo ở cả khu vực công lập và ngoài công lập được hưởng chế độ hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng; hỗ trợ chăm sóc sức khỏe định kỳ và chăm sóc sức khỏe nghề nghiệp; được bố trí nhà ở công vụ, chỗ ở tập thể hoặc hỗ trợ tiền thuê nhà khi công tác tại vùng đặc biệt khó khăn. Đồng thời, có chính sách thu hút, trọng dụng đối với người có trình độ cao, có tài năng, có năng khiếu đặc biệt, có kỹ năng nghề cao và nhà giáo làm việc trong các lĩnh vực trọng yếu, thiết yếu.
Một điểm mới khác là Luật Nhà giáo bãi bỏ hệ thống phân hạng nhà giáo I, II, III trước đây, thay bằng khái niệm chức danh nhà giáo được xác định theo yêu cầu nghề nghiệp trong từng cấp học và trình độ đào tạo. Chính phủ sẽ ban hành nghị định quy định chi tiết về chức danh nhà giáo và các nội dung liên quan nhằm bảo đảm tính thống nhất trong tổ chức thực hiện.
