Mặc dù dịch cúm A (H1N1) đã được Tổ chức Y tế Thế giới nâng lên cấp 6 - đại dịch toàn cầu, nhưng không có bất kỳ một sự hạn chế nào về quá trình giao lưu giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ. Các chuyên gia dịch tễ nhận định đây là thách thức lớn để kiểm soát đại dịch. Để tìm hiểu về hoạt động giám sát dịch cúm tại Việt Nam, phóng viên (PV) báo Sức khỏe&Đời sống đã có cuộc trao đổi với TS. Trần Như Dương - Phó Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương.
PV: Thưa ông, trước đây giám sát dịch cúm tại Việt Nam được thực hiện như thế nào?
TS. Trần Như Dương: Hội chứng cúm (HCC) là 1 trong 26 nhóm bệnh truyền nhiễm bắt buộc phải giám sát của Việt Nam. Trước đây, giám sát HCC thường không có xét nghiệm bệnh phẩm mà chỉ được tổng hợp lại từ báo cáo hệ thống y tế từ thôn bản qua các cấp tới Trung ương (ghi nhận những ca bệnh trong cộng đồng có các biểu hiện chung của HCC như ho, xuất tiết mũi họng, sốt nhẹ, đau họng...) và số mắc, chết tại các cơ sở điều trị.
Để có kết quả điều tra dịch tễ chính xác hơn, từ năm 2004, Việt Nam thiết lập hệ thống giám sát cúm quốc gia với 15 điểm giám sát trên toàn quốc. Hoạt động của các điểm giám sát này dựa vào các bệnh viện lớn có thu dung những bệnh nhân có HCC và một số phòng khám đa khoa ở cộng đồng, lấy bệnh phẩm của những bệnh nhân có biểu hiện HCC gửi về Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương làm xét nghiệm xem đó là cúm gì. Cùng với những giám sát bệnh ở cộng đồng sẽ giúp hệ thống giám sát cúm toàn quốc có được kết quả chính xác nhất về sự lưu hành của bệnh cúm tại Việt Nam.
PV: Với những diễn biến cấp bách của đại dịch cúm A (H1N1) mới, hệ thống giám sát cúm đã có những biện pháp gì để kiểm soát?
TS. Trần Như Dương: Khi thế giới xác định dịch cúm A (H1N1) mới, Bộ Y tế, Cục Y tế dự phòng, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương đã xây dựng kế hoạch và mục đích giám sát cụ thể cho từng giai đoạn.
Giai đoạn 1 (dịch chưa vào Việt Nam): mục đích của giám sát dịch là ngăn chặn đến mức tối đa dịch xâm nhập vào Việt Nam. Tuyến đầu là cửa khẩu ở đường không, đường bộ, đường thuỷ.
Giai đoạn 2 (dịch xuất hiện tại Việt Nam): Khi dịch mới bắt đầu có những ca bệnh xâm nhập (thời điểm hiện nay), các ca bệnh còn mang tính tản phát, lẻ tẻ, chưa lây lan rộng trong cộng đồng thì vẫn phải giám sát chặt chẽ dịch bệnh ở các cửa khẩu, đồng thời phải kiểm soát triệt để, phát hiện sớm và điều trị kịp thời những ca bệnh; khoanh vùng và cách ly ổ dịch, không cho dịch lây lan trong cộng đồng. Phát hiện nhanh những ổ dịch nhỏ, dù đó chỉ là những ca bệnh có HCC tại các xí nghiệp, trường học, cơ quan... vẫn lấy mẫu xét nghiệm để kịp thời phát hiện những virut cúm A (H1N1) bị lọt ra ngoài tầm giám sát ở cửa khẩu, bệnh viện... để xử trí kịp thời.
Nhưng nếu sang giai đoạn dịch xuất hiện lan tràn trong cộng đồng, giám sát cúm chuyển trọng tâm từ cửa khẩu vào giám sát tại cộng đồng để phát hiện sớm và tập trung mọi nguồn lực để dập tắt từng ổ dịch nhỏ, tránh lây lan rộng. Một nhiệm vụ rất quan trọng khác lúc này là tăng cường thu dung bệnh nhân vào điều trị tại các cơ sở y tế, đặc biệt là người già, người mắc bệnh mạn tính, trẻ em... nhằm hạn chế tối đa những biến chứng và tử vong.
Trong mọi giai đoạn của dịch, những người làm công tác giám sát luôn coi trọng nhiệm vụ tuyên truyền cho người dân cách phòng ngừa, phát hiện và hợp tác với ngành y tế nhằm giảm thiểu tối đa tác hại của đại dịch.
PV: Ông đánh giá như thế nào về vai trò của hệ thống giám sát cúm đối với đại dịch này? Khó khăn hiện nay là gì?
TS. Trần Như Dương: Công tác dự phòng nói chung cũng như những người giám sát dịch đã lường trước được những diễn biến phức tạp của đại dịch và chủ động công tác phòng chống ngay khi dịch đang ở ngoài Việt Nam. Việc giám sát chặt chẽ các ca bệnh xâm nhập thời kỳ này để kéo dài thời gian cho chúng ta chuẩn bị mọi mặt đối phó với dịch bệnh. Chính công tác giám sát chặt chẽ và tuyên truyền sâu rộng cho cộng đồng mà những người bệnh đầu tiên đã chủ động tìm đến các cơ sở y tế điều trị, những người có tiếp xúc biết cách ly tại cộng đồng.
Tuy nhiên có quá nhiều khó khăn cho công tác giám sát dịch hiện nay. WHO đã nâng mức cảnh báo dịch lên cấp 6 nhưng không khuyến nghị đóng cửa biên giới, không hạn chế giao lưu toàn cầu, trong khi mỗi ngày ở nước ta có đến vài chục nghìn người đến từ vùng có dịch. Thời gian ủ bệnh của virut cúm A (H1N1) thường là 7 ngày, thời gian này người bệnh hầu như không có biểu hiện gì, các biện pháp đo thân nhiệt không phát hiện được. Có trường hợp mắc bệnh nhưng không có dấu hiệu lâm sàng. Hơn nữa đây là bệnh lây qua đường hô hấp, tiếp xúc. Những yếu tố này rất dễ dẫn đến những ca bệnh lọt lưới giám sát, đặc biệt là trong tình hình dịch hiện nay.
PV: Ông nhận định gì về đại dịch cúm hiện nay? Sự hợp tác của cộng đồng với ngành y tế có ý nghĩa như thế nào với công tác chống dịch?
TS. Trần Như Dương: Dự đoán về diễn biến của đại dịch cúm hiện nay là rất khó, các quốc gia đều phải cảnh giác nguy cơ tại đất nước mình và đưa ra chiến lược phù hợp, phải luôn sẵn sàng với mọi tình huống phức tạp nhất xảy ra. Nếu dịch xảy ra lan tràn thì phải cố gắng hết sức giảm thiểu tác hại của đại dịch đối với xã hội.
Mọi kế hoạch chống dịch của ngành y tế phải có sự hợp tác của người dân và toàn xã hội mới có thể đạt được mục tiêu đề ra. Người dân cần chủ động thông báo HCC với đơn vị y tế nếu có biểu hiện bệnh, đặc biệt là những người trở về từ vùng dịch hoặc có tiếp xúc với người bệnh; chủ động cách ly, có ý thức bảo vệ mình và bảo vệ cộng đồng.
PV: Trân trọng cảm ơn ông!
Lê Hảo (thực hiện)