Giá thuốc: Đâu là giá trị thực?

Thời sự
Giá thành sản phẩm hình thành bởi nhiều yếu tố. Ở nước ta, có một số nét riêng, giá sẽ bao gồm các chi phí sau như: Nguyên phụ liệu (hơn 90% nguyên phụ liệu làm thuốc ở nước ta phải nhập ngoại,

Bài 4: Giá và nguyên nhân tất yếu tác động đến giá thuốc

Yếu tố hình thành giá trong sản xuất phân phối:

Giá thành sản phẩm hình thành bởi nhiều yếu tố. Ở nước ta, có một số nét riêng, giá sẽ bao gồm các chi phí sau như: Nguyên phụ liệu (hơn 90% nguyên phụ liệu làm thuốc ở nước ta phải  nhập ngoại, vì thế giá của các nguyên phụ liệu  này sẽ phụ thuộc vào chất lượng và nguồn nhập); bao bì; năng lượng (tuy nhà nước có bình ổn,  nhưng giá xăng dầu vẫn thay đổi theo giá thế giới. Điện tính theo giá dùng cho sản xuất  cao hơn giá tính cho sinh hoạt); khấu hao nhà xưởng, máy móc, thiết bị (nhà xưởng tùy mức kiên cố khoảng 20-30 năm  phải xây dựng lại hay sửa chữa lớn. Máy móc thiết bị trung bình 10 năm phải thay đổi do hư hỏng, do lạc hậu. Vì vậy, chi phí khấu hao, phân bổ theo tỷ lệ thích hợp vào giá sản phẩm); tiền lương (lương  thực tế trả cho người trực tiếp làm ra sản phẩm thường cao hơn lương cơ bản, trong khi đó lương cơ bản lại tăng theo các kỳ  tăng lương  của Nhà nước dù có thể năng suất chưa tăng theo và khác nhau tùy loại hình xí nghiệp như nhà nước, tư nhân, trong nước, liên doanh, 100% vốn nước ngoài. Ngoài ra, các đơn vị sản xuất còn phải chi nộp thêm các loại bảo hiểm cho người lao động); các chi phí nghiên cứu; chi phí trực tiếp phục vụ cho sản xuất, chi phí  bảo vệ môi trường giao dịch tiếp thị... Ngoài các chi phí trên thì doanh nghiệp còn phải có lãi hợp lý trong sản xuất. Lãi tính theo tỷ lệ phần trăm trên các chi phí tổng hợp.  

Giá bán buôn, bán lẻ thuốc được hình thành trên cơ sở giá mua vào cộng với các chi phí và lãi hợp lý trong khâu bán buôn, bán lẻ. Chi phí  bán buôn, bán lẻ gồm các khoản giống nhau, chỉ khác nhau ở qui mô gồm:

- Chi phí giao dịch, mua hàng, vận chuyển về đơn vị mình. Nơi bán có đưa hàng đến nơi mua thì vẫn có chi phí này vì nơi bán đã tính phí vào giá; Chi phí khấu hao kho tàng, thiết bị bảo quản, chi phí giữ  kho. Tính chi phí chung toàn đơn vị và phân bổ theo tỷ lệ hợp lý vào từng nhóm sản phẩm; Chi phí vận chuyển hàng thay đổi theo cự ly, tình trạng đường sá, loại phương tiện dùng, mức khó  trong vận chuyển (cồng kềnh, dễ vỡ  hay không? hay có yêu cầu kỹ thuật bảo quản đặc biệt không?). Từ đó tính ra tỷ lệ phí vận chuyển trên doanh số cho từng nhóm hàng. Ngoài ra, chi phí  khấu hao nhà cửa và thiết bị phục vụ cho việc bảo quản và bán hàng, lương người bán hàng (khoán theo doanh số) cao hơn lương cơ bản, các chi phí  giới thiệu, quảng cáo, khuyến mại và phải có lãi hợp lý trong các khâu bán buôn, bán lẻ.

Giá thành còn chi phối bởi lãi suất tín dụng. Trước đây Nhà nước rót đủ vốn cho các cơ sở sản xuất kinh doanh quốc doanh, ngày nay bất cứ loại hình sản xuất kinh doanh nào cũng vay vốn ngân hàng và phải trả lãi suất, trong khi lãi suất này cũng biến động. 

Nếu toàn bộ các yếu tố hình thành giá được tính đúng, đủ thì sẽ có giá thành  sản xuất, giá bán buôn, bán lẻ hợp lý phản ánh đúng giá trị thực.

 Chi phí sản xuất thuốc ảnh hưởng tới giá thuốc.

Những nguyên nhân tất yếu và bất khả kháng tác động đến giá

 Không hình dung hết chi phí  nên thường có ấn tượng giá thuốc cao hơn hàng tiêu dùng khác. Sự thật không đúng vậy: Ví dụ, phải nhập nguyên liệu aspirin và 3-4 loại phụ liệu, qua nhiều công đoạn sản xuất với nhiều thiết bị, qua bảo quản vận chuyển nhiều chặng bán buôn bán lẻ, mới đưa aspirin pH-8 đến người bệnh, nhưng giá mỗi vỉ 10 viên cũng chỉ  có 1.200đ thấp hơn giá 10 chiếc kẹo (5000đ)  hay 1 bát phở (15.000đ). Tiền thuốc mỗi ngày tại bệnh viện tỉnh 10.000-20.000đ, thấp hơn chi phí chữa bệnh, sinh hoạt khác.

Không hình dung được sự tiến bộ kỹ thuật nên cho rằng giá thuốc những năm sau này tăng nhiều so với trước. Sự thật không như vậy. Hơn 10 năm qua, khu vực sản xuất thực hiện GMP, phải chi phí nhiều vào việc xây dựng nhà xưởng, mua máy móc thiết bị. Sản xuất theo GMP phải dùng xăng dầu, điện nước nhiều hơn (tăng khoảng 40%-50%). Để thuốc có giá trị chữa bệnh (sinh khả dụng) tương đương với nước ngoài, không những phải chọn nguyên liệu tốt mà còn phải có phụ liệu tốt. Chẳng hạn, để làm thuốc viên,  trước đây chỉ dùng một số tá dược thông thường (tinh bột sắn, hoàng tinh, bột talc, magie stearat, canxitriphosphat...) có sẵn trong nước, nay phải thay bằng hàng loạt tá dược tốt hơn (sodium starch glycolat, pregclatinized starch, avicel, aerosil, các dẫn chất celulose như  HPMC. HPC EC ACP, nhựa methacrylat...) phần lớn phải nhập khẩu. Mấy năm  qua, khu vực phân phối  thực hiện GDP, GPP  phải xây dựng các cơ sở bảo quản, bán hàng, tuyển thêm nhân sự. Các chi phí  ấy tăng, thì tất yếu giá thuốc cũng phải tăng tương thích.

Nếu không hình dung được sự khác biệt loại hình xí nghiệp ( khác nhau nhiều về cách  quản lý),  về kỹ thuật sản xuất (đạt GMP, ISSO hay chưa đạt), về nguyên phụ liệu đưa dùng (nguồn, giá) nên có khi người tiêu dùng không đồng tình với sự khác biệt về giá (cùng hoạt chất và hàm lương) giữa các đơn vị sản xuất. Tương tự, có nhiều người cứ đòi hỏi nhà thuốc đạt GPP phải bán giá bằng nhà thuốc chưa đạt GPP (có cán bộ quản lý còn trấn an là xây dựng GPP không ảnh hưởng đến giá) song thực tế nhà thuốc đạt GPP lúc đầu bán doanh số thấp hơn nhà thuốc chưa đạt GPP (do  tuân thủ việc bán theo đơn trong khi nhân dân chưa có thói quen này) nhưng lại bỏ tiền ra xây dựng cơ sở, mua sắm thiết bị bảo quản bán hàng và tăng cường nhân sự... thì không thể giữ nguyên giá bán như cũ.

Hơn nữa, sự sản xuất phân phối thuốc ở nước ta lệ thuộc vào thị trường thế giới nên khi có sự thay đổi ở thị trường thế giới thì tất yếu sẽ tác động vào giá thuốc trong nước ở nước ta. Hơn 90% nguyên liệu sản xuất thuốc phải nhập. Khi giá nguyên phụ liệu thế giới tăng, thì giá thuốc sản xuất trong nước cũng phải tăng theo. Đến nay trong nước mới sản xuất được các dược phẩm ứng với 533 hoạt chất trong đó chủ yếu là hoạt chất chữa các bệnh thông thường, còn số dược phẩm ứng với quá nửa số hoạt chất còn lại, bao gồm nhiệu hoạt chất chữa bệnh chuyên khoa, bệnh khó, ta còn phải nhập thành phẩm. Khi thị trường thế giới có biến động về giá hợp lý hay biến động về giá do đầu cơ của các công ty xuyên quốc gia thì giá bán ở nước ta cũng bị kéo theo. Đây là điều bất khả kháng. Ngoài ra, chi phí đưa thuốc về miền núi lớn gấp 3- 4 thậm chí gấp nhiều lần so với  thành thị và nông thôn, đồng bằng. Vì thế, nếu không hình dung  đầy đủ các nguyên nhân  tất yếu và các nguyên nhân bất khả kháng tác động lên giá thì trước mỗi sự biến động lớn nhỏ đều gây cho người tiêu dùng  những cú sốc, từ đó  nhận định về giá thuốc không toàn diện và  chính xác.

Những yếu tố tiêu cực tác động đến giá thuốc
và cách khắc phục

Những yếu tố tiêu cực tác động xấu đến giá

Có quá nhiều xí nghiệp nhưng hầu hết là nhỏ, sản xuất hàng trùng lặp, tất cả  đều phấn đấu đạt GMP. Điều này làm tăng chi phí đầu tư nhưng không sử dụng hết công suất nhà xưởng thiết bị, tăng chi phí tiếp thị (mới bán được hàng trùng lặp) và do đó sẽ tăng các chi phí quản lý.

Từ 2008 đến nay màng lưới phân phối vẫn lớn và chồng chéo hầu như không đổi. Người kinh doanh mua đi bán lại vòng vèo, qua mỗi công đoạn lại cộng thêm thặng số. Chưa kể có nơi còn dùng "thủ thuật làm giá" (viết hóa đơn bán song hàng vẫn ở trong kho), mỗi lần như thế lại cộng  thêm thặng số. Kết cục doanh số mỗi điểm bán buôn, bán lẻ tăng lên giả tạo, tiền lãi mỗi chặng có vẻ hợp lý nhưng doanh số chung thực tế vẫn thấp, tiền lãi cộng dồn toàn chặng tính trên doanh số thực vẫn có tỷ lệ khá cao.

Chưa đề xuất được chính sách trợ giá vận chuyển cho miền núi và các miền xa xôi hẻo lánh khác làm cho giá các vùng miền này quá lệch so với mức giá chung.

Đề xuất một số cách khắc phục

Tổ chức lại sản xuất (qui mô sự phân công). Muốn tổ chức lại phải tùy vào yêu cầu tập trung hóa sản xuất, nhận thức của từng địa phương không thể làm trong ngày một ngày hai.

Quy định thặng số bán lẻ toàn chặng (TSBLTC): Nắm vững giá sản xuất thuốc nội và giá nhập khẩu thuốc ngoại, từ đó qui định TSBLTC sẽ có lợi như điều tiết chiết khấu bù trừ giữa nơi thuận lợi và  không thuận lợi tạo ra giá lẻ thống nhất trong toàn quốc hoặc từng vùng lớn.

Đề xuất  Nhà nước trợ giá vận chuyển cho miền núi, cho các miền xa xôi hẻo lánh. Cần có qui định TSBLTC cho các khu vực này. Trên cơ sở đó các công ty bán buôn có thể tự điều tiết để có giá thống nhất trong các thành phố, thị xã, huyện lị miền núi. Chỉ xin phần trợ giá của Nhà nước đưa thuốc từ huyện lị đến thôn bản miền núi hoặc các vùng xa xôi héo lánh khác. Như vậy kinh phí trợ giá không lớn và có thể do ngân sánh trung ương  hay địa phương cấp. Trong thực tế những năm qua khi đưa thuốc về các xã diện  nghèo, địa phương cũng có ngân sách thực hiện việc trợ giá này.

DSCKII. Bùi Văn Uy


Ý kiến của bạn