Gia đình... “da cam”

Xã hội
Ðúng 60 năm cuộc đời đã trôi qua với người đàn ông có tên Nguyễn Kim Khướng với bao đau đớn, nhọc nhằn. 19 tuổi lên đường nhập ngũ chiến đấu, rồi gánh nỗi đau da cam suốt hơn 30 năm cùng những di chứng thảm khốc để lại cho những đứa con bất hạnh.

Ðúng 60 năm cuộc đời đã trôi qua với người đàn ông có tên Nguyễn Kim Khướng với bao đau đớn, nhọc nhằn. 19 tuổi lên đường nhập ngũ chiến đấu, rồi gánh nỗi đau da cam suốt hơn 30 năm cùng những di chứng thảm khốc để lại cho những đứa con bất hạnh. Nhưng ông đã âm thầm đấu tranh để chiến thắng tất cả, và điều làm chúng tôi vô cùng ngạc nhiên còn đến từ những người con tật nguyền vì chất độc da cam của ông!

Ông sinh năm 1952 (Nhâm Thìn) ở Bắc Lãm, Hà Đông, Hà Tây (nay là Hà Nội). Năm 1971, Nguyễn Kim Khướng cũng như biết bao thanh niên khác lên đường sang Lào tham gia vào cuộc chiến tranh chống Mỹ. Trước khi ra trận, ông đã kịp làm lễ ăn hỏi người con gái đẹp nhất nhì Bắc Lãm thời ấy (bà Phùng Thị Hiển, vợ ông bây giờ). Thỉnh thoảng, ông vẫn hay đùa: “Ngày đó bà ấy xinh lắm, tôi sợ mất. Nhưng tiếng gọi của dân tộc, của đất nước lên đường chiến đấu là thiêng liêng và cao cả nhất thế hệ chúng tôi nên tôi phải xa bà ấy”.

Bốn năm lăn lộn trên chiến trường Lào - Campuchia, năm 1975, ông được về Việt Nam, và tháng 12/1978, ông xuất ngũ trở lại quê hương. Bên cạnh nỗi đau mất mát của biết bao gia đình, việc ông Khướng trở về nguyên vẹn quả thực là một niềm vui không thể tả xiết.

Sau khi kết hôn, năm 1979, vợ chồng ông sinh được cậu con trai đầu lòng là anh Nguyễn Kim Ơn. Nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang…

Nỗi đau chiến tranh

Trên đường về Ba La, chúng tôi có ghé qua bến xe Hà Đông để “đón lõng” ông Khướng nhưng thật tiếc hôm ấy ông không đi làm. Lần tìm qua nhiều con ngõ nhỏ, chúng tôi mới đến được nhà của vợ chồng ông ở tổ 22, Bắc Lãm, Phú Lương, Ba La, Hà Đông, Hà Nội. Biết khách từ phương xa tới, bà Hiển đón tiếp rất nhiệt tình: “Vài năm gần đây, biết hoàn cảnh gia đình, cũng có một số cơ quan đoàn thể đến hỏi thăm, nhờ thế mà gia đình cũng nhận được nhiều sự quan tâm của các cấp chính quyền và xã hội”. Bà Hiển trước đây làm giáo viên nhưng vì nhà khó khăn, con ốm đau nên nghỉ về buôn bán. Gần đây bà bị đau cột sống không thể lao động được nữa nên đành ở nhà nội trợ, tham gia vào Hội người cao tuổi của thôn và chăm sóc cháu ngoại.
 
Nhắc đến cháu ngoại, bà lại rơm rớm nước mắt: “Cũng thật may mắn cho chúng tôi là con bé thứ ba ( Nguyễn Thị Xuân, sinh năm 1987) lại không bị ảnh hưởng gì. Nó đã lập gia đình và có 3 con, các cháu cũng không sao hết”. Nói ra từ “may mắn” mà chúng tôi nghe giọng bà sao thật chua xót. Hai ông bà đã 60 tuổi, sinh được 4 người con thì tới 3 người khiếm thị. Khi anh Ơn được 7 tháng tuổi, ông bà mới phát hiện ra anh không nhìn thấy được. “Con có bệnh thì vái tứ phương, Đông Tây y, lễ bái đủ cả mà không thấy khỏi. Mang con xuống Viện Mắt Trung ương khám, bác sĩ kết luận cháu bị mù bẩm sinh” - bà Hiển kể. Bao nhiêu hy vọng đặt vào đứa con thứ hai (Nguyễn Thị Huyền, sinh năm 1980) cũng sụp đổ khi Huyền cũng bị giống người anh trai của mình.
 Ông Khướng và 3 người con khiếm thị của mình (Ảnh gia đình cung cấp).

Đang nói đến đó thì thấy tiếng xe máy đi vào, ông Khướng đón chị Huyền đi làm về. Chị Huyền bây giờ là Phó Chủ tịch Quận hội người mù Hà Đông. Vì đồng lương ít ỏi (hơn 1 triệu đồng/tháng) không đủ để chi phí thuê nhà, sinh hoạt ở gần cơ quan nên hằng ngày ông Khướng vẫn sáng đưa đi chiều lại tới đón chị về. Nhìn ông già hơn rất nhiều so với cái tuổi 60 của ông, khuôn mặt sạm lại vì những bệnh tật của chiến tranh, bàn tay gân guốc, giọng nói khàn khàn: “Tôi cũng nhiều tuổi rồi, làm không được nhiều, lắm khi trái gió trở trời bệnh cũ tái phát chỉ muốn gục luôn nhưng vì miếng cơm manh áo, vì nghĩ đến con lại phải gượng dậy”. Nhớ lại giữa những năm 80, khi đó ông mới bỏ việc tại Nhà máy Nước Hà Đông để về nhà làm thợ xây do gia đình quá khó khăn, nghe đài nói nhiều về dioxin, ông đưa cả 2 con đi xét nghiệm mới biết mình đã bị nhiễm thứ chất độc quái ác đó. Mọi hy vọng thật sự sụp đổ trước mắt vợ chồng ông.

Nghe lời khuyên của một bác sĩ, ông Khướng - bà Hiển gắng gượng nuôi con và chờ đến gần chục năm sau mới sinh tiếp. Năm 1987, Xuân ra đời khỏe mạnh, mắt sáng như tia hy vọng phía cuối đường hầm của hai ông bà. Khấp khởi mừng thầm, năm 1988, bà Hiển mang thai đứa con thứ tư. Lần này may mắn đã không mỉm cười, cô con út Nguyễn Thị Sen cũng mãi mãi không được nhìn thấy mặt trời.

Biết mình bị nhiễm độc dioxin nhưng do quá trình thay đổi nơi làm việc, ông đã làm thất lạc giấy tờ nên không được địa phương giải quyết chế độ. Mãi đến năm 1990, sau 3 đợt khảo sát thực tế, gia đình ông mới có tên trong danh sách nhận trợ cấp hằng tháng của Sở Lao động và Thương binh Xã hội. “Mỗi tháng tôi được 717.000 đồng, còn mỗi con được 318.000 đồng. Số tiền tuy không đủ để trang trải cho việc ăn học của các cháu nhưng cũng đỡ đần cho vợ chồng tôi nhiều. Chúng tôi rất cảm ơn Đảng và Nhà nước!” - ông Khướng tâm sự.

Năm 2000, ông đi phụ xây bị tai nạn không thể làm tiếp được đành về mua xe máy làm nghề xe ôm. Còn bà ở nhà tỉ mẩn đan chổi, thúng mủng, nong nia đi bán có thêm tiền nuôi con. Dù vất vả hai ông bà vẫn cố cấy mỗi vụ 6 sào lúa để có thóc ăn.

Những cử nhân khiếm thị

Mỗi lúc nhớ lại những khó khăn ngày trước, ông bà giọt ngắn giọt dài “Nó chất thành núi nó chảy thành sông tưởng như không thể vượt qua nổi nhưng vì muốn con được học hành như những đứa trẻ khác nên mình phải cố lên thôi”.

Năm Ơn được 10 tuổi và Huyền 9 tuổi, ông bà đưa lên học ở Trường Nguyễn Ðình Chiểu (Hà Nội) dành cho trẻ em khiếm thị. Rất nhiều người lầm tưởng vợ chồng ông chối bỏ trách nhiệm đem con đi bỏ ở trại trẻ mồ côi. Lại phải nhọc lòng giải thích, có người tin người không. Cảnh nhà thiếu thốn, không đủ đóng học phí, ông Khướng thường phải chở gạo đến nhà bếp của trường, quy ra tiền, nhờ các thầy cô chăm sóc dạy dỗ con mình.

Ðể trả ơn cha mẹ, Ơn và Huyền chăm ngoan, học giỏi. Học xong cấp III, Ơn và Huyền đã thi vào đại học. Ơn đỗ Nhạc viện Hà Nội (nay là Học viện Âm nhạc Quốc gia), Huyền đỗ vào Khoa Văn - Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn. Ngày hai anh em đi thi, ông bà phải hỏi han khắp nơi để mua lại cho bằng được chiếc máy đánh chữ cũ cho con làm bài. Chiếc máy ấy gia đình vẫn nâng niu cất giữ để làm kỷ niệm cho các anh chị sau này.

Tốt nghiệp ra trường, Ơn xin vào Trung tâm Nghệ thuật tình thương, do NSND Tường Vi tổ chức. Anh vừa hát vừa kéo đàn nhị theo đoàn đi biểu diễn ở các tỉnh, nay đây mai đó, thu nhập cũng chỉ đủ để trang trải cuộc sống. Còn Huyền, với chức vụ là Phó Chủ tịch Quận hội người mù Hà Đông, được giao quản lý một số tổ nghề và làm công việc hành chính. Ngoài ra, Huyền cũng tham gia biểu diễn văn nghệ và dẫn chương trình để có thêm thu nhập. Huyền nói: “Cả đời này anh em chúng em không trả hết công ơn cha mẹ. Dù sinh ra chúng em không có đôi mắt sáng, nhưng đó không phải lỗi của bố mẹ chúng em”.

Riêng cô con gái thứ ba, Nguyễn Thị Xuân, không muốn cha mẹ lo lắng thêm cho mình, đã tình nguyện nghỉ học từ năm lớp 9. Ông Khướng nói: “Xuân thương anh chị em không được như mình nên tình nguyện nghỉ học từ năm lớp 9 để vợ chồng tôi tập trung lo cho 3 đứa mù lòa. Nó là đứa thông minh nếu được học hành chắc chắn nó cũng sẽ giỏi giang”.

Cô gái út của đôi vợ chồng cần mẫn là Nguyễn Thị Sen, sinh năm 1988 hiện đang học tại Trường Nguyễn Văn Tố (là trường trung học phổ thông dành cho người khiếm thị Hà Nội). Đồng thời Sen cũng đang theo học chuyên ngành đàn tranh, Khoa Thanh nhạc ở Học viện Âm nhạc Quốc gia. Đối với ông Khướng bà Hiển, con cái chính là mục đích sống, là niềm tự hào, là những chiếc bằng khen lớn lao nhất.

 Anh con trai cả Kim Ơn ngày bảo vệ tốt nghiệp.

Vĩ thanh

Hơn 30 năm đã trôi qua, biết bao tủi cực đắng cay đều đã nếm trải, ông Khướng vẫn lặng lẽ dìu dắt những đứa con khiếm thị của mình đi qua bóng tối, không một lời oán thán, trách móc. Nhìn khuôn mặt ông rạng ngời mỗi khi nhìn lên những tấm giấy khen của con dán kín trên tường là chúng tôi cũng cảm nhận được niềm vui, niềm hạnh phúc của vợ chồng ông.

Chập choạng tối, từ biệt chúng tôi, ông Khướng lại ra bến xe Hà Đông đứng đón khách. Tuổi cao, sức yếu, mang trong mình biết bao bệnh tật, ông sẽ chống chọi sao với sự khắc nghiệt của nghề xe ôm, làm sao giành được với những người trẻ tuổi. “Nắng mưa, rét mướt, bụi bặm, ông phải hứng chịu cả. Lại phải có kỹ thuật mới tranh được khách, không thì đói”. Tuy vậy, hằng tháng, ông vẫn kiếm được hơn 1 triệu đồng.

Hàng xóm láng giềng rất nể trọng nghị lực vươn lên của gia đình ông Khướng. Với hàng xóm, họ sống hòa đồng, nhường nhịn và biết giúp đỡ người khác. Ông Ðặng Ðình Quang, Trưởng thôn Bắc Lãm nhận xét: “Dù hoàn cảnh khó khăn, ba con bị khiếm thị bẩm sinh, nhưng vợ chồng ông Khướng vẫn vượt khó khăn, nuôi dạy các con nên người. Thật đáng khâm phục!”. Phải chăng chính khát vọng vượt lên trên bệnh tật, mong ước cho con được học hành đã giúp vợ chồng ông Nguyễn Kim Khướng vượt qua bao cay đắng để đạt được thành quả ngày hôm nay? Tuy cuộc sống vẫn còn vất vả nhưng 30 năm qua của vợ chồng ông quả thực là một tấm gương tiêu biểu về những người đang hằng ngày chống chọi với hậu quả của chất độc màu da cam.

  Bài và ảnh:Hà Ánh Dương


Ý kiến của bạn