Sáng hôm sau, đơn vị ông bước vào trận đánh đầu tiên. Máy bay trực thăng địch xuất hiện trước để trinh sát. Những chiến sĩ miền Nam đi cùng lập tức hô lớn: "Máy bay Mỹ kìa, xuống công sự ngay!". Bộ đội nhanh chóng vào vị trí chiến đấu.
Một đơn vị chiến đấu rất đặc biệt
Không lâu sau, xe tăng địch bắt đầu tiến vào. Chiến sĩ sử dụng B40 ngắm bắn. Nhưng khi bóp cò, thay vì tiếng nổ lớn, quả đạn chỉ phát ra tiếng: "Khò... khò...". Thuốc phóng bị ẩm nên đạn không rời khỏi nòng. Đạn vẫn nằm nguyên trong súng.
Xe tăng tiếp tục lao tới. Lúc đó, AK gần như không thể xuyên được giáp xe tăng. "Nếu cứ nằm đó thì chỉ có chết" - ông Bản kể.

Ông Bản đang kể lại trận đánh đầu tiên. Ảnh: Hà Phương
Không còn cách nào khác, các chiến sĩ phải xông thẳng lên xe tăng. Họ bám vào nòng pháo rồi trèo lên nóc xe. Xe tăng quay vòng liên tục để hất người xuống. Khi kíp lái tưởng người đã rơi xuống và xe vừa dừng lại, các chiến sĩ lập tức lao lên.
Thông thường lính Mỹ mở nắp xe tăng để quan sát. Thấy bộ đội nhảy lên, họ vội đóng nắp lại. Các chiến sĩ cố giật nắp xe tăng. Lính Mỹ bên trong giữ chặt. Có người vừa hé được nắp để nhét thủ pháo thì lập tức bị đẩy bật ra.
Cuối cùng, họ buộc phải giật mạnh nắp xe, nhét thủ pháo vào rồi giữ chặt. "Khi thủ pháo nổ thì mình cũng hy sinh. Lấy một mạng người đổi lấy một chiếc xe tăng và 4-5 tên địch trong đó" - ông Bản nghẹn giọng.
Đến khi chiếc xe tăng thứ ba bị tiêu diệt theo cách ấy, quân địch bắt đầu hoảng loạn. Ông kể, ngay trong đêm hôm đó, phía địch còn phát trên hệ thống truyền thanh rằng họ vừa gặp một đơn vị chiến đấu rất đặc biệt.
Họ nói đơn vị này không bắn được viên đạn nào nhưng cứ nhảy lên xe tăng để nhét thủ pháo vào. Đó là cách đánh mà phía Mỹ không thể hình dung nổi. Sau đó, các xe tăng còn lại bắt đầu quay đầu rút lui.
Trận đánh đầu tiên cũng là trận đánh đầy mất mát vì chưa có kinh nghiệm. Riêng đơn vị ông hy sinh 14 chiến sĩ. Toàn bộ những trận đánh ác liệt này diễn ra tại khu vực Tam giác Sắt - vùng chiến lược gồm Củ Chi - Bến Cát - Trảng Bàng.
Sau trận đánh mở màn ấy là chuỗi ngày chiến đấu liên miên: Chống càn, tập kích, phản kích, đánh đồn bốt..., hầu như không có thời gian nghỉ. Chỉ trong vòng hai năm, đơn vị của ông tham gia tới 148 trận đánh lớn, chưa kể vô số trận đụng độ nhỏ lẻ.
"Cứ thử chia ra thì gần như vài ngày lại có một trận đánh. Chiến trường Tam giác sắt lúc đó ác liệt đến mức như vậy" - ông Bản nhận xét.
Ông Bản nhớ lại trước mỗi trận đánh, cả đơn vị thường ngồi lại để rút kinh nghiệm từ trận trước, bàn cách chiến đấu sao cho tiêu diệt được địch nhưng giảm thương vong nhiều nhất có thể.
Trong những cuộc trò chuyện ấy, các chiến sĩ thường hẹn ước: "Nếu hòa bình, người nào còn sống thì đưa đồng đội mình về với Mẹ".
Lời hứa ấy được nói rất bình thản, nhưng chất chứa biết bao tình đồng đội và nỗi nhớ gia đình. Giữa bom đạn, khi cái chết có thể đến bất cứ lúc nào, điều người lính nghĩ đến sau cùng vẫn là Mẹ già ở quê nhà, là mong ước được trở về với vòng tay Mẹ, về với quê hương.
"Đó chỉ là một lời hứa giữa những người lính chuẩn bị bước vào trận đánh mà không ai biết mình còn sống hay sẽ hy sinh. Nhưng sau hòa bình, với những người còn sống như chúng tôi, lời hứa ấy trở thành một món nợ với đồng đội" - ông Bản rưng lệ trải lòng.
Chiến tranh đã cướp đi quá nhiều đồng đội
Trung đoàn 268 được thành lập vào tháng 2/1968. Trong đó, Tiểu đoàn 2 là đơn vị của ông, gồm những chiến sĩ từ Hải Phòng hành quân vào Nam chiến đấu.
Từ năm 1968 đến năm 1975, tiểu đoàn liên tục được bổ sung quân ba lần, tổng cộng khoảng 1.000 cán bộ, chiến sĩ từng chiến đấu trong đội hình đơn vị. "Đến sau Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975, đơn vị chỉ còn hơn 100 người" - ông lặng người kể.
Điều day dứt hơn cả là gần như không còn ai trở về với một cơ thể lành lặn. Hầu như 100% số người còn sống đều là thương binh, bệnh binh hoặc bị nhiễm chất độc da cam. Bản thân ông Bản cũng là thương binh hạng 2/4.
Trong những năm chiến đấu ở Tam giác sắt, quân địch liên tục rải chất độc hóa học. Khi ấy, những người lính chỉ nghĩ đó là hóa chất dùng để làm trụi cây cối, tạo tầm quan sát, hoàn toàn không biết trong đó có dioxin - loại độc chất để lại hậu quả kéo dài qua nhiều thế hệ.

Sơ đồ quy tập 77 hài cốt Liệt sĩ ở căn cứ Quân y C10B từ ngày 20 đến 26/6/1978 thuộc rừng Bưng Còng huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương (trước đây). Ảnh: Hà Phương
Nhiều năm sau ngày đất nước thống nhất, khi trở về quê hương Vĩnh Bảo (Hải Phòng), ông tìm gặp lại những đồng đội còn sống. Trong số khoảng 70 người trở về địa phương, hơn 60 người sau khi lập gia đình đều sinh con mang dị tật hoặc chịu ảnh hưởng nặng nề bởi di chứng chất độc da cam.
Những mất mát vẫn chưa dừng lại, theo thống kê của người cựu chiến binh này, trong hơn 100 đồng đội còn sống trở về sau chiến tranh, đến nay đã có 25 người qua đời. Điều khiến ông day dứt là hầu như tất cả đều mất vì ung thư.
Ông Bản nhớ lại, cuối năm 1969, ông bị thương rất nặng và được chuyển vào Bệnh xá C10 điều trị. Khi vết thương dần hồi phục, thấy bệnh xá thiếu nhân lực trong khi thương binh ngày càng nhiều, ông chủ động xin ở lại phụ giúp. Chính trong khoảng thời gian này, ông đã tận mắt chứng kiến cách những người lính được mai táng giữa chiến trường.
Mỗi khi có chiến sĩ hy sinh, đồng đội đều tẩm liệm chu đáo rồi bí mật chôn cất trong rừng. Sau khi chôn cất, đồng đội phải san phẳng mặt đất, trồng lại cỏ, tưới nước để xóa mọi dấu vết, khiến khu vực ấy trông như chưa từng có ngôi mộ nào.
Nhưng chính điều đó lại đặt ra một nỗi trăn trở với ông Bản. "Chúng tôi đã hứa sẽ đưa đồng đội về với mẹ. Nhưng nếu chôn như thế giữa rừng, sau này biết tìm ở đâu?" - ông băn khoăn.
Ý nghĩ phải tạo ra một cách nhận dạng cho những người lính hy sinh ngày càng thôi thúc ông. Sau nhiều lần làm thử nghiệm và thất bại với nhiều cách làm khác nhau, cuối cùng ông đã chọn cách viết thông tin của các chiến sĩ đã hy sinh trên giấy, sau đó ông bôi một lớp mỡ bò, cuộn tròn lại, cho vào lọ kháng sinh nhỏ, đậy nắp thật kín rồi bọc thêm một lớp nilon bên ngoài.
Ban đầu, ông bỏ chiếc lọ trong túi áo các chiến sĩ đã hy sinh. Nhưng rồi ông lại nghĩ để vậy chiếc lọ có thể rơi mất. Cuối cùng, ông quyết định cất nó trong miệng những chiến sĩ đã hy sinh.
Một ngày, khi ông đang làm công việc ấy thì ông Năm Minh - chính trị viên của Ban Quân y khu Sài Gòn - Gia Định đến kiểm tra. Sau khi nghe ông trình bày ý tưởng, vị chính trị viên đánh giá đây là sáng kiến rất có ý nghĩa và quyết định phổ biến cho toàn bộ các đơn vị quân y vào khoảng cuối năm 1969, đầu năm 1970.
Khi triển khai xuống các đơn vị chiến đấu, nhiều người phản ảnh bộ đội không có những lọ kháng sinh nhỏ như quân y. Ông lại nghĩ ra cách khác. Ông hướng dẫn tháo ruột và lò xo của những chiếc bút bi, cuộn mảnh giấy đã bôi mỡ bò thật nhỏ rồi nhét vào thân bút, sau đó đậy kín và cài trong túi áo người lính. Nhiều năm sau, trong quá trình quy tập hài cốt, ông vẫn nhiều lần tìm thấy những chiếc bút còn lưu giữ nguyên danh tính của người đã khuất.
Cũng chính sáng kiến này đã trở thành bước ngoặt cuộc đời ông. Vài tháng sau, ông nhận quyết định điều chuyển từ đơn vị chiến đấu về Ban Quân y Quân khu Sài Gòn - Gia Định làm công tác y vụ. Nhiệm vụ của ông là thống kê toàn bộ thương binh, bệnh binh tại các quân y, theo dõi người đã điều trị khỏi để đưa về đơn vị, người nặng thì chuyển tuyến trên.
Mỗi tháng, ông phải đi bộ xuyên rừng đến tất cả các quân y một lần để thu thập số liệu. Không chỉ làm nhiệm vụ chuyên môn, ông còn âm thầm quan sát rất kỹ từng khu vực. Ông ghi nhớ cấu trúc bệnh xá, đường đi, hầm trú ẩn và đặc biệt là vị trí các nghĩa trang dã chiến.
Ở mỗi nơi, ông đều vẽ sơ đồ rất chi tiết: Phía đông có gì, phía tây có gì, phía nam, phía bắc là những dấu mốc nào... Tất cả được ghi chép cẩn thận, bôi mỡ chống ẩm rồi cất trong một thùng đạn của Mỹ có khả năng chống nước rất tốt.
Có lần, trên đường công tác, biệt kích bất ngờ đổ quân. Để tránh bị bắt, ông phải giấu chiếc thùng đựng toàn bộ sơ đồ vào một hố bom ở khu vực An Phú rồi chạy thoát. Sau đó, máy bay địch tiếp tục ném bom dữ dội xuống khu vực này. Từ ba hố bom ban đầu, cả cánh đồng biến thành hàng trăm hố bom mới. Sau ngày giải phóng, ông nhiều lần quay lại, mang cả máy rà sắt để tìm nhưng chiếc thùng này đã biến mất mãi mãi.
May mắn là những tấm bản đồ ấy đã được ông ghi nhớ trong đầu. Chính ký ức được tích lũy từ những chuyến đi năm xưa đã trở thành cơ sở quan trọng giúp ông sau này lần theo dấu vết các nghĩa trang dã chiến, tìm kiếm và đưa hàng nghìn đồng đội trở về với gia đình...
(Còn tiếp)