Bài II: Quảng bá tuyên truyền vận động dùng thuốc nội
Ưu tiên quảng bá, định hướng dùng thuốc nội cho bác sĩ
Ngày nay, thầy thuốc có trình độ cao, có điều kiện tham khảo, trải nghiệm nhiều. Nếu theo quan niệm “bào chế quy ước” mà cứ “ào ào” nói rằng thuốc nội, thuốc ngoại có hàm lượng như nhau nên có giá trị chữa bệnh ngang nhau, thì khó thuyết phục.
Ta mới có rất ít giấy chứng nhận tương đương sinh học (TĐSH) so với yêu cầu nhưng lại cũng chưa tận dụng hết chứng lý của các chứng chỉ này để quảng bá chất lượng thuốc. Lẽ ra, ngay trong quá trình sản xuất theo kỹ thuật bào chế sinh dược học hay ngay sau khi được cấp giấy chứng nhận TĐSH, cơ sở sản xuất cần liên hệ với bác sĩ bệnh viện tổ chức việc theo dõi lâm sàng, đánh giá hiệu quả điều trị của thuốc nội đạt TĐSH (có so sánh với thuốc ngoại càng tốt). Đây là cách hợp tác lành mạnh. Kết quả dương tính của các đánh giá, so sánh này là lời thuyết phục cao nhất về chất lượng thuốc nội đối với bác sĩ (BS); sẽ có có ảnh hưởng lớn đến định hướng dùng thuốc nội; ảnh hưởng này không chỉ giới hạn trong một bệnh viện.
![]() Dược phẩm sản xuất trong nước ngày càng được người dân tin dùng. |
Theo điều tra của Grey Group (Mỹ) thì có tới 77% người tiêu dùng Việt Nam ưa thích thương hiệu nước ngoài. Thuốc cũng bị tâm lý này chi phối. Tuy nhiên thuốc không phải là mặt hàng do người bệnh tự chọn mà theo chỉ định của BS. Ngay với những người “tự mua thuốc không qua khám bệnh” thì việc chọn lựa của họ cũng xuất phát từ chỉ định của BS trong lần đầu. Theo đó, việc thuyết phục BS thay đổi nhận thức về chất lượng thuốc nội, hướng vào việc dùng thuốc nội phải được coi là giải pháp hàng đầu.
Quảng bá và định hướng dùng thuốc nội cho người bệnh
Lời khuyên, đơn của BS có uy lực, tính thuyết phục cao nhất đối với người bệnh. Để tăng tỷ lệ người dùng thuốc nội cần bắt đầu bằng ưu tiên quảng bá chất lượng thuốc nội cho BS, kế đó cần làm cho người bệnh, người bán thuốc tuân thủ một nguyên tắc quan trọng nhất “chỉ dùng thuốc sau khi khám bệnh”. Hiện chỉ có 256 loại thuốc không kê đơn (theo Thông tư 8/2009 TT-BYT) có tới 30 nhóm thuốc phải kê đơn (theo Công văn 1517BYT-KCB -2008). Năm 2010 có 20.000 mặt hàng nội và ngoại số đăng ký còn hiệu lực trong đó có hơn 80% là thuốc phải kê đơn. Nếu giữ đúng nguyên tắc “chỉ dùng thuốc sau khi khám bệnh” và thực thi nghiêm túc “quy chế kê đơn” (ở cả khâu kê đơn và bán thuốc) thì sẽ góp phần đáng kể vào việc tăng tỷ lệ dùng thuốc nội.
Quảng cáo thuốc bằng các phương tiện thông tin đại chúng, bằng mạng lưới trình dược viên là rất cần song phải quản lý chặt chẽ về nội dung, hình thức. Nếu không sẽ có mặt trái, làm tăng tỷ lệ người “tự mua thuốc dùng” không qua khám xét, biến trình dược viên thành “mậu dịch viên lưu động”. Từ đó sẽ làm tăng tỷ lệ dùng không đúng, lạm dụng thuốc, gây lãng phí. Trong lĩnh vực quảng cáo tiếp thị, thuốc ngoại đang chiếm ưu thế (do chi phí quảng cáo tiếp thị lớn). Một mặt phải chấn chỉnh việc quảng cáo tiếp thị thuốc ngoại lộn xộn không đúng (dĩ nhiên không hạn chế những mặt làm đúng); mặt khác, phải nâng cao năng lực quảng cáo tiếp thị của thuốc nội (tăng kinh phí, chọn nội dung, hình thức phù hợp).
Quảng cáo một số thực phẩm chức năng (TPCN) thường nói nhiều về tính năng chữa bệnh của sản phẩm. Điều này gây ra sự nhầm lẫn vì đây không phải là thuốc chữa bệnh. Một ví dụ: BS chỉ định thuốc nội aspirin phòng ngừa huyết khối sau tai biến đột quỵ nhồi máu não, mỗi ngày chỉ dùng 81mg tốn dưới 1000 đồng. Tin theo quảng cáo, một số người dùng TPCN với giá rất đắt thay cho aspirin dù sản phẩm này chưa có tài liệu nghiên cứu chứng minh có tác dụng ngừa huyết khối (?). Cũng như thế, nhiều người cho trẻ dùng TPCN làm từ vỏ hàu nhập từ Mỹ, thành phần chính là muối canxi và vitamin D trong khi ta có rất sẵn viên canxi-D nội với giá rẻ hơn. Nếu sa vào dùng TPCN ngoại phòng chữa bệnh thì vừa không có hiệu lực lại vừa tốn kém hơn nhiều lần so với dùng thuốc nội. Thiết nghĩ, cần rà soát chấn chỉnh nội dung quảng cáo sản phẩm.
Phối hợp y - dược trong việc dùng thuốc nội
Muốn tăng tỷ lệ dùng thuốc nội một cách bền vững cần phối hợp chặt chẽ giữa hai lĩnh vực y dược. Mặt thứ nhất là có định hướng các xí nghiệp dược trong nước sản xuất thêm nhiều loại thuốc đi từ nhiều hoạt chất (tránh trùng lặp nhiều biệt dược trên cùng một hoạt chất), đón đầu sản xuất sớm các biệt dược từ những hoạt chất mới (vừa hết hạn bảo hộ sáng chế độc quyền), tổ chức nghiên cứu và sản xuất các thuốc bằng công nghệ tiên tiến (như nói ở phần đầu) để có thể tăng và giữ được tỷ lệ doanh số sản xuất thuốc nội cao và tiến lên chiếm ưu thế trong thị trường. Cơ quan quản lý nhà nước khó có thể đặt ra chỉ tiêu cho xí nghiệp song cần có những chính sách thích hợp để các xí nghiệp vươn tới những mục tiêu này. Mặt thứ hai là đẩy mạnh việc dùng thuốc nội trong bệnh viện, nếu được cần đưa ra các chỉ tiêu cụ thể theo từng giai đoạn, phù hợp với từng tuyến điều trị.
Hiện nay y dược còn chưa có sự phối hợp chặt chẽ. Chẳng hạn: các xí nghiệp trong nước đã sản xuất đầy đủ các thế hệ mới cephalosporin, song nhiều BS vẫn chưa biết rõ và cho đơn bằng biệt dược ngoại có giá đắt gấp khoảng1,5 lần. Phác đồ khuyến cáo dự phòng hen phế quản không cho dùng salbutamol (uống) corticoid (uống) mà dùng thuốc hít corticoid hay corticoid hít phối hợp với salmeterol hít nhưng xí nghiệp trong nước chưa sản xuất được các thuốc này nên BS lại không có cách nào khác là kê đơn bằng biệt dược ngoại (seretide). Do sự lệch pha này mà chưa đặt ra được chỉ tiêu dùng thuốc nội sát với yêu cầu điều trị (bên y) và năng lực cung ứng (bên dược). Tổng kết hằng năm có đưa ra tỷ lệ dùng thuốc nội bệnh viện này cao hơn bệnh viện kia. Hãy mổ xẻ xem trong đó có bao nhiêu phần trăm dùng thuốc ngoại khi không cần thiết khi thuốc nội đã đủ cung cấp, có bao nhiêu phần trăm bắt buộc phải dùng thuốc nội do yêu cầu điều trị mà thuốc nội không có đáp ứng? Làm như thế mới rõ cội nguồn, rõ trách nhiệm của bên y hay bên dược. Phối hợp y - dược tốt sẽ tạo ra một phong trào, một nề nếp “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” sâu rộng, bền chắc trong toàn ngành, từ đó cải thiện thị hiếu dùng thuốc sính ngoại hiện nay.
DSCKII. Hà Thủy Phước
