
Chùa Đại Tuệ có diện tích 6.000 m², nằm trên đỉnh động Thăng Thiên, thuộc dãy núi Đại Huệ, ở độ cao 500 m so với mực nước biển. Ảnh: Quốc Đàn.
Khoảng cách giữa "danh" và "thực"
Nghệ An không thiếu những điểm đến có khả năng tạo dấu ấn trên bản đồ du lịch. Từ những bãi biển trải dài, các hòn đảo ngoài khơi đến đại ngàn Pù Mát, thác Khe Kèm, dòng sông Giăng hay những thung lũng mờ sương ở miền Tây, mỗi vùng đất đều có một vẻ đẹp riêng. Nhưng sức hấp dẫn của xứ Nghệ không chỉ nằm ở cảnh quan thiên nhiên mà còn ở bề dày văn hóa, lịch sử của vùng đất và con người xứ Nghệ.

Đồi hoa hướng dương ở Nghệ An là điểm đến thu hút đông đảo du khách, góp phần tạo thêm sản phẩm du lịch trải nghiệm và quảng bá hình ảnh vùng đất xứ Nghệ. Ảnh: Quốc Đàn
Ở miền Tây Nghệ An, du khách có thể khám phá những cánh rừng nguyên sinh, xuôi dòng sông Giăng hay ghé thăm thác Khe Kèm. Miền đất này còn có sức hút từ chính cuộc sống của đồng bào Thái, Đan Lai, Mông. Đó là những nếp nhà sàn, món ăn dân dã, phong tục tập quán và những nét sinh hoạt vẫn được người dân gìn giữ trong đời sống thường ngày.
Về miền biển, ngoài tắm biển, nghỉ dưỡng, du khách có thể tìm hiểu cuộc sống của ngư dân, theo chân những chuyến thuyền cập bến, ghé chợ hải sản hay hòa mình vào không khí lễ hội cầu ngư. Còn với hành trình về nguồn, Kim Liên, Truông Bồn và những địa chỉ đỏ trở nên hấp dẫn hơn nếu được nối dài bằng những trải nghiệm tại làng nghề, thưởng thức món ngon địa phương, khám phá văn hóa bản địa.
Đặc biệt, Nghệ An sở hữu kho tàng di sản văn hóa phi vật thể phong phú. Nổi bật là dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh, được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2014. Những làn điệu mộc mạc gắn với đồng ruộng, bến sông, sinh hoạt lao động và đời sống tinh thần đã trở thành một phần bản sắc của người dân vùng đất này.
Bên cạnh Ví, Giặm, các lễ hội truyền thống như đền Chín Gian, Hang Bua, Môn Sơn, những điệu múa, tiếng khèn, tiếng cồng chiêng cùng nghề dệt thổ cẩm, đan lát và tri thức dân gian của đồng bào Thái, Mông, Khơ Mú, Ơ Đu, Thổ cũng là những giá trị có thể khai thác để phát triển du lịch cộng đồng, du lịch trải nghiệm.

Đời sống, phong tục, kiến trúc nhà sàn và ẩm thực bản địa là những chất liệu để phát triển du lịch cộng đồng. Ảnh: Song Hoàng
Điều đáng nói, nhiều di sản vẫn hiện diện trong đời sống thường ngày của người dân, chứ không chỉ nằm trong hồ sơ bảo tồn hay những chương trình biểu diễn phục vụ du khách. Đây là lợi thế để Nghệ An xây dựng những sản phẩm có chiều sâu, du khách không chỉ nghe Ví, Giặm mà còn tìm hiểu không gian văn hóa sinh thành của những làn điệu dân ca. Du khách không chỉ xem nghề dệt thổ cẩm mà có thể trực tiếp trải nghiệm các công đoạn làm ra sản phẩm. Ngoài ra, còn khám phá phong tục, ẩm thực và nhịp sống của từng cộng đồng.
Những giá trị này càng làm nổi bật lợi thế của Nghệ An khi địa phương sở hữu nhiều danh hiệu có giá trị quốc gia và quốc tế. Khu dự trữ sinh quyển thế giới miền Tây Nghệ An được UNESCO công nhận năm 2007; dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh được ghi danh năm 2014. Năm 2026, Cửa Lò tiếp tục được vinh danh Đô thị Du lịch sạch ASEAN, sau dấu mốc trở thành đô thị du lịch biển đầu tiên của cả nước vào năm 2014.
Đây là những lợi thế quan trọng để quảng bá hình ảnh và nâng cao vị thế điểm đến. Tuy nhiên, danh hiệu và tài nguyên chỉ thực sự phát huy giá trị khi được chuyển hóa thành những sản phẩm cụ thể, có khả năng thu hút và giữ chân du khách.

Diễn xướng dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh. Ảnh: CSCC
Thực tế, du lịch Nghệ An vẫn đang có khoảng cách đáng kể giữa tiềm năng và khả năng khai thác. Theo Sở VHTT&DL Nghệ An, năm 2024, tỉnh này đón khoảng 9,45 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế đạt 120.500 lượt, chỉ chiếm khoảng 1,2%. Khách nội địa vẫn là nguồn khách chủ yếu, với thị trường quan trọng đến từ Hà Nội và các tỉnh phía Bắc. Lượng khách thường tăng cao vào các dịp nghỉ lễ, mùa hè, cho thấy du lịch Nghệ An vẫn phụ thuộc khá lớn vào tính mùa vụ. Trong khi đó, khả năng thu hút các nhóm khách trẻ, khách có nhu cầu trải nghiệm, khám phá và nghỉ dưỡng dài ngày vẫn còn nhiều dư địa.
Nói cách khác, Nghệ An có nhiều điểm đến nhưng chưa hình thành được những hành trình đủ hấp dẫn để du khách dành thêm thời gian khám phá. Không ít chuyến đi vẫn chủ yếu xoay quanh tham quan di tích, tắm biển, chụp ảnh rồi rời đi, trong khi những trải nghiệm văn hóa, sinh thái, ẩm thực và giải trí chưa được kết nối thành sản phẩm hoàn chỉnh.
Thiếu sản phẩm để giữ chân du khách
Một điểm đến có cảnh quan đẹp hay di tích nổi tiếng mới chỉ là điều kiện ban đầu. Để du khách ở lại lâu hơn, địa phương cần có hệ thống dịch vụ đi kèm, từ lưu trú, ăn uống đến vui chơi, giải trí và những trải nghiệm đặc trưng. Đây cũng là khoảng trống mà du lịch Nghệ An cần giải quyết.
Từ góc nhìn doanh nghiệp lữ hành, ông Nguyễn Huỳnh Sương là Giám đốc của Công ty Cổ phần Đông Dương Travel (Đông Dương Trаvеl) cho rằng, bài toán của du lịch Nghệ An không chỉ là thu hút thêm khách mà còn phải tạo được những trải nghiệm đủ hấp dẫn để du khách muốn ở lại lâu hơn.

Du lịch Nghệ An vẫn thiếu những sản phẩm đặc trưng, đủ sức tạo dấu ấn riêng và giữ chân du khách lâu hơn. Ảnh: Song Hoàng
Theo đó, khi các điểm đến chưa được kết nối đồng bộ với hệ thống dịch vụ, doanh nghiệp sẽ gặp khó trong việc xây dựng những tour dài ngày, đa dạng trải nghiệm và có sức cạnh tranh. Một chuyến đi có thể bắt đầu từ cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, nhưng để kéo dài hành trình, du khách cần thêm những lựa chọn về ẩm thực, giải trí, trải nghiệm văn hóa bản địa và các hoạt động vào buổi tối.
Thực tế, nếu du khách chỉ ghé thăm một điểm đến, chụp ảnh rồi tiếp tục hành trình sang địa phương khác, giá trị kinh tế mà điểm đến giữ lại sẽ không lớn. Ngược lại, khi có thêm sản phẩm du lịch đêm, trải nghiệm đời sống bản địa, thưởng thức ẩm thực và các hoạt động giải trí phù hợp với từng nhóm khách, cơ hội tăng thời gian lưu trú và mức chi tiêu sẽ rộng mở hơn.
Đây cũng là vấn đề đặt ra đối với các điểm đến có lợi thế riêng như Cửa Lò, Kim Liên hay miền Tây Nghệ An. Cửa Lò cần thêm những hoạt động vui chơi, giải trí và trải nghiệm ngoài tắm biển; các điểm du lịch văn hóa, lịch sử cần được kết nối với dịch vụ và những hành trình khám phá có chiều sâu; còn du lịch miền Tây muốn phát triển bền vững phải giải quyết đồng thời bài toán hạ tầng, lưu trú, nhân lực và khả năng tổ chức dịch vụ tại cộng đồng.
Trong định hướng phát triển du lịch, Nghệ An đặt mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn vào năm 2030. Tỉnh xác định phát huy lợi thế tài nguyên thiên nhiên, di sản và bản sắc văn hóa để xây dựng thương hiệu du lịch đặc trưng, gắn với Chủ tịch Hồ Chí Minh, đất nước và con người xứ Nghệ.

Bình minh trên biển Cửa Lò, ngư dân hối hả kéo lưới sau một đêm vươn khơi. Ảnh: Quốc Đàn.
Đáng chú ý, định hướng phát triển năm 2026 tập trung hình thành hệ sinh thái "văn hóa - con người - di sản - sinh thái", đồng thời chú trọng các sản phẩm du lịch đêm, du lịch MICE và du lịch cộng đồng miền Tây. Đây là những hướng đi có thể giúp đa dạng hóa thị trường, giảm phụ thuộc vào mùa vụ và kéo dài thời gian lưu trú của khách.
Tuy nhiên, từ định hướng đến sản phẩm thực tế vẫn còn một khoảng cách. Theo Ban Chỉ đạo phát triển du lịch tỉnh Nghệ An, tiến độ triển khai một số dự án du lịch trọng điểm còn chậm sau khi được cấp giấy chứng nhận đầu tư, trong đó có Dự án Khu du lịch, dịch vụ hỗn hợp và nghỉ dưỡng Cầu Cau, Dự án Khu Resort Bắc đảo Lan Châu. Đáng chú ý, tỉnh chưa có nhiều sản phẩm du lịch quy mô lớn, chất lượng cao, các khu phức hợp đủ sức tạo thêm hoạt động vui chơi, giải trí và kéo dài thời gian lưu trú. Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch chưa có chiều sâu, thiếu trọng tâm, trọng điểm; hình thức còn đơn điệu, hiệu quả và sức lan tỏa chưa cao.
Những hạn chế này cho thấy bài toán của du lịch Nghệ An không chỉ nằm ở việc khai thác tài nguyên mà còn ở năng lực tổ chức và kết nối các nguồn lực để tạo ra sản phẩm. Một bãi biển đẹp, một khu rừng giàu giá trị sinh thái hay một di tích lịch sử nổi tiếng sẽ khó tạo sức hút lâu dài nếu thiếu dịch vụ đi kèm và những hoạt động khiến du khách muốn trải nghiệm nhiều hơn.
Ông Trần Xuân Cường, Phó Giám đốc Sở VHTT&DL Nghệ An, cho rằng du lịch theo mùa cũng là cơ hội để địa phương làm phong phú sản phẩm, khai thác tốt hơn cảnh quan và nông sản đặc trưng. "Để thu hút du khách, Nghệ An sẽ tiếp tục làm mới sản phẩm, tăng cường kết nối các điểm đến, doanh nghiệp lữ hành và đẩy mạnh quảng bá trên nhiều kênh. Trong đó, chú trọng khai thác thế mạnh về thiên nhiên, văn hóa, lịch sử để xây dựng những sản phẩm, hành trình phù hợp, tạo thêm sức hút và kéo dài thời gian lưu trú của du khách", ông Cường cho hay.
Rõ ràng, để du lịch trở thành ngành kinh tế có sức đóng góp lớn, Nghệ An cần chuyển từ tư duy khai thác những gì sẵn có sang đầu tư bài bản cho sản phẩm. Trong đó, vai trò của doanh nghiệp và cộng đồng dân cư cần được đặt đúng vị trí; người dân không chỉ tham gia bảo tồn di sản mà còn phải có cơ hội hưởng lợi từ hoạt động du lịch. Nghệ An có biển, có rừng, có di sản và những câu chuyện văn hóa riêng. Điều địa phương cần lúc này không phải là thêm những lời khẳng định về tiềm năng, mà là những sản phẩm đủ sức biến tiềm năng ấy thành trải nghiệm thực tế, để du khách không chỉ đến rồi đi mà còn muốn ở lại, khám phá và quay trở lại.
Thông tin về cơ sở lưu trú và mục tiêu phát triển du lịch Nghệ An:
Theo Sở VHTT&DL Nghệ An hiện có hơn 960 cơ sở lưu trú, trong đó trên 60 cơ sở được xếp hạng sao, cùng 76 doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành. Hệ thống lưu trú phân bố từ khu vực đô thị, ven biển đến các địa bàn miền núi, tạo điều kiện đón nhiều dòng khách khác nhau. Tuy nhiên, bài toán không chỉ nằm ở số lượng phòng nghỉ mà còn ở chất lượng dịch vụ, khả năng kết nối với các điểm đến và sự đa dạng của sản phẩm trải nghiệm.
Năm 2026, Nghệ An đặt mục tiêu đón 10,4 triệu lượt khách, trong đó có 6,5 triệu lượt khách lưu trú, doanh thu du lịch đạt 12.500 tỉ đồng. Tỉnh định hướng xây dựng hệ sinh thái du lịch gắn với văn hóa, con người, di sản và sinh thái; chú trọng du lịch đêm, du lịch MICE, du lịch cộng đồng miền Tây, đồng thời mở rộng xúc tiến tại các thị trường quốc tế.
Ước tính 10 tháng 2026, Nghệ An đón 10,3 triệu lượt khách, trong đó khách lưu trú đạt hơn 6,3 triệu lượt. Tổng thu từ du lịch ước đạt 31.472 tỉ đồng, doanh thu dịch vụ du lịch đạt 12.680 tỉ đồng. Kết quả này cho thấy lượng khách đã tiệm cận mục tiêu cả năm, trong khi doanh thu dịch vụ du lịch vượt chỉ tiêu đề ra. Vấn đề đặt ra trong giai đoạn tiếp theo là làm thế nào để chuyển tăng trưởng về lượng thành giá trị thực chất hơn, thông qua kéo dài thời gian lưu trú, nâng mức chi tiêu và tạo thêm những sản phẩm có khả năng giữ chân du khách.
