Du dương tiếng khèn

Văn hóa – Giải trí
Từ những chuyến đi Lào cách đây hơn chục năm, còn đọng lại trong ký ức tôi ấn tượng một đất nước thanh bình, một dân tộc hiền hậu, thấm nhuần đức từ bi của Phật Thích Ca.
Từ những chuyến đi Lào cách đây hơn chục năm, còn đọng lại trong ký ức tôi ấn tượng một đất nước thanh bình, một dân tộc hiền hậu, thấm nhuần đức từ bi của Phật Thích Ca. Đặc biệt là tiếng khèn du dương luôn xuất hiện trong đời sống hàng ngày và các lễ nghi quan trọng, tiếng khèn phản ánh tâm hồn người Lào.

Nghiên cứu về khèn Lào, bà Marie Gagneux nhận định: “Chiếc khèn có mặt trong tất cả các lễ hội dân gian, ngày hội đua thuyền độc mộc và hội bắn pháo. Những người thổi khèn đi thành đoàn, theo sau là đoàn người nhảy múa và đánh trống. Ở lễ hội, khán giả đứng trên bục xem diễn kịch hát lam luang, lời hát đệm đàn khèn. Hai nhóm trai gái gặp nhau, bên trai thổi khèn, đôi bên giao lưu tình cảm bằng lời thơ (Tập san của những người bạn Vương quốc Lào - số 6-1971, tiếng Pháp).

Có một huyền thoại về nguồn gốc khèn. Xưa có một ông vua đi săn, nghỉ lại trong rừng. Nghe tiếng chim cu gió đưa lại, vua thấy sảng khoái, bèn bảo bọn lính hầu: “Ai chế ra được một nhạc cụ có khả năng tạo được âm thanh du dương như vậy sẽ được trọng thưởng”. Người chỉ huy đội cận vệ hứa với vua sẽ làm được nhạc cụ ấy. Một hôm, anh trở lại rừng, ngồi nghe chim ca, suối reo và gió thổi. Bỗng anh nảy ra ý tưởng: Anh cắt một khúc thân cây sậy, ghép vào một gốc rễ cây làm thành một dụng cụ, anh thổi thử thấy phát ra tiếng. Anh điều chỉnh dần rồi đặt tên nó là cái khèn (có nghĩa là nghỉ ngơi thoải mái).

Có một giả thuyết khác về khèn không nên thơ bằng, nhưng có lẽ thực tế hơn. Khèn có lẽ xuất phát từ đồ chơi dân gian, tên là vọt. Sau vụ gặt, nông dân buộc một số sáo trúc bằng một sợi dây, quay rồi tung lên trời cho người khác bắt lấy. Chỉ con trai mới thổi khèn, học thổi từ nhỏ, người có khiếu học cả làm khèn. Học ít nhất 1 năm, phải theo đúng lễ nghi, nếu không tuân thủ sẽ bị thần khèn trừng phạt. Bà Marie Gagneux nghĩ đến tương lai sản xuất khèn công nghiệp: “Đến ngày ấy, khi người ta sản xuất mỗi giờ 300 chiếc khèn thì lúc đó hồn khèn thân thương của người Lào cũng sẽ không còn”.

Khèn không phải là nhạc cụ riêng của người Lào mà còn phổ biến ở nhiều tộc người khác, gần nhất là các dân tộc thiểu số sống ở vùng Hoa Nam trước khi di cư xuống Nam Á vào khoảng thiên niên kỷ trước. Có nhiều loại khèn tùy theo mỗi dân tộc, theo mẫu gốc hoặc cải tiến, tiếng Trung Quốc nghĩa là chen. Bảng âm của khèn giữa âm đàn harmonium và accordéon. Ở Mường Tè (Lào Cai) và ở Vân Nam (Trung Quốc), tôi đã thấy loại khèn của người La Hú (tự nhận là gốc Hổ) rất nhỏ, có gắn quả bầu để vang thanh. Ở Cao Bằng và ở Lào Cai, khèn người Hmông (Mèo) giống loại chen của Trung Quốc. Dân tộc này thổi khèn vào dịp tang lễ. Có khi người thổi khèn vừa nhào lộn như ở rạp xiếc. Ở Tây Bắc, người Thái và cả người Tày rất ưa chuộng khèn. Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước kể lại, ông đã phát hiện ra cái đẹp của khèn sau chiến dịch Tây Bắc hồi kháng chiến chống Pháp. “Sau khi ta giải phóng vùng núi ấy, tôi mới có dịp nghiên cứu kỹ chiếc khèn. Năm 1953, tôi ăn Tết với người Mường ở Nghĩa Lộ. Theo tập quán, mỗi tối, trong 15 ngày, nhân dân lần lượt tập trung ở  các xóm để múa xòe. Ngay từ phút đầu buổi họp, tôi đã bị cuốn hút bởi âm điệu du dương của khèn quyện lấy các điệu múa. Điệu khèn như dòng suối chảy khiến cho mọi người, từ trẻ em đến bà già đều nhún nhảy theo giai điệu.

Ở Yên Châu, tôi cũng gặp một nghệ nhân khèn người Thái. Khi bác thổi khèn, bác lim dim mắt như chìm đắm trong âm thanh. Tiếng khèn của bác có một sức hấp dẫn khó tả. Khi bác thổi bài Theo dòng sông Mã, chúng tôi quên là đang ngồi ở nhà sàn, quên ngọn đèn dầu le lói và nồi nước đang sôi trên bếp than mà cứ tưởng như mình đang bồng bềnh trên dòng sông gần đấy, lại nghe như có ai bước nhẹ trên bãi cát ven sông dưới ánh trăng mờ ảo (dịch theo bản tiếng Pháp của tạp chí Le Vietnam en Marche, số 5 – 1962).      

  Hữu Ngọc


Ý kiến của bạn