Loạt bài sẽ phân tích các mô hình đào tạo toàn cầu, hệ thống văn bằng cốt lõi và đề xuất định hướng chiến lược nhằm chuẩn hóa lực lượng bác sĩ trong tương lai.
Bài 1: Các con đường đào tạo, hệ thống văn bằng và thuật ngữ y khoa trên thế giới
Các con đường đào tạo y khoa trên thế giới
Hệ thống đào tạo bác sĩ y khoa đã được hoàn chỉnh hầu như ở mọi quốc gia trên thế giới. Đối với công chúng, người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh vẫn là người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh bất luận được đào tạo ở đâu.
Ở nhiều quốc gia phát triển, khung cấu trúc đào tạo y khoa hiện nay được hình thành từ 100 - 150 năm trước khi các trường y khoa kết hợp giữa đào tạo theo các mô hình hội nghề nghiệp với đào tạo thợ cạo - phẫu thuật viên. Mô hình giảng dạy lý thuyết trước, thực hành nghề nghiệp sau là mô hình nổi bật trong nửa đầu thế kỷ 20.
Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, sự mở rộng đào tạo chuyên khoa sau đại học diễn ra song song với sự xuất hiện các mô hình đào tạo đại học mới. Đã có một số giải pháp chuyển dịch các vấn đề: từ lý thuyết đến thực hành, từ đại học sang sau đại học, từ huấn luyện sang thực hành không giới hạn.
Đổi mới đào tạo y khoa diễn ra không đồng thời ở tất cả các nước, có sự khác biệt rõ rệt trên thế giới, giữa các khu vực và ngay trong một quốc gia, khác biệt cả về kết cục đào tạo. Hơn nữa, các quốc gia và các khu vực trên thế giới có tầm nhìn riêng về việc làm thế nào để đào tạo được một người bác sĩ đáp ứng tốt nhất nhu cầu chăm sóc sức khoẻ người dân.
Các mô hình có ảnh hưởng lớn đến hệ thống đào tạo gồm: Mô hình Anh quốc: Ảnh hưởng chính đến các quốc gia thuộc Khối Thịnh vượng chung; Mô hình Bắc Mỹ: Ảnh hưởng đến một số quốc gia mới nổi; Mô hình châu Âu: Ở châu Âu, tất cả quốc gia thuộc Liên minh châu Âu (EU) phải tuân thủ nguyên tắc EU điều chỉnh thị trường nội địa, bao gồm thừa nhận lẫn nhau về bằng cấp nghề nghiệp.
Mặc dù giao lưu quốc tế về giáo dục y học thông qua các tạp chí, hội nghị, hiệp hội, Liên đoàn Giáo dục y học quốc tế (WFME), các tổ chức và xu hướng tác động phát triển quốc tế như FAIMER, các con đường dẫn đến thực hành y khoa độc lập, không giới hạn vẫn khác nhau hoàn toàn giữa các quốc gia. Thông tin về sự khác biệt này là quan trọng khi sự dịch chuyển của người học và người sau tốt nghiệp gia tăng và nhu cầu tương ứng để hiểu mức năng lực hành nghề, văn bằng trải nghiệm và xác thực văn bằng.


Sơ đồ minh hoạ hệ thống đào tạo y khoa trên thế giới.
Nghiên cứu của Wijnen‐Meijer (2013) trên 50 quốc gia cho thấy: ở nhiều quốc gia, người tốt nghiệp có thể vào nội trú trực tiếp sau khi kết thúc học tại trường y khoa (Route I và V); ở một số nước khác, người tốt nghiệp trước hết phải kết thúc khóa nội trú (internship) hoặc phục vụ xã hội bắt buộc, hoặc cả hai. Với 6 con đường đào tạo, tồn tại sự khác biệt lớn ở phần thân chung, mỗi quốc gia còn tồn tại nhiều con đường đào tạo. Ví dụ, thời gian đào tạo sau đại học (chương trình đào tạo nội trú) giữa các chuyên khoa, cũng như trong một chuyên khoa giữa các quốc gia.
Yêu cầu để được thực hành không hạn chế có thể trải dài từ khi nhận bằng bác sĩ Y khoa (MD) cho đến 1 năm đào tạo chuyên khoa để hoàn tất đào tạo chuyên khoa và chuyên khoa sâu (fellowship). Cũng như cấu trúc, thuật ngữ cũng khác nhau giữa các nước, đặt ra thách thức cho việc phiên giải các mức đào tạo, hoặc khi so sánh chương trình đào tạo, hướng dẫn, chuẩn đầu ra giữa các nước. Sau đào tạo nội trú 1 năm và vượt qua Kỳ thi y khoa quốc gia, các bác sĩ nội trú được thực hành không hạn chế.
Hệ thống văn bằng cốt lõi trong giáo dục y khoa toàn cầu
Sự đa dạng về các con đường đào tạo kéo theo sự khác biệt trong hệ thống văn bằng y khoa giữa các quốc gia. Việc hiểu đúng bản chất các cấp độ văn bằng là tiền đề quan trọng để đánh giá, xác thực năng lực hành nghề trong bối cảnh di chuyển nhân lực y tế quốc tế ngày càng gia tăng.
| Tên văn bằng (Ký hiệu) | Tên tiếng Anh | Diễn giải & Phạm vi áp dụng |
| Cử nhân Khoa học Y học (BSc) | Bachelor of Science in Medicine | Áp dụng cho 3 năm đầu trường y khoa ở các nước cộng đồng chung Châu Âu ký đồng thuận Bologna và tích hợp đào tạo y khoa theo cấu trúc này. |
| Thạc sĩ Khoa học Y học (MSc) | Master of Science in Medicine | Áp dụng cho 3 năm cuối ở các trường y khoa thuộc các nước ký đồng thuận EU Bologna; thường tương đương với MBBS/MBChB hoặc MD. |
| Bác sĩ Y khoa (MD) | Medical Doctor | Văn bằng được cấp cho người tốt nghiệp trường y khoa. Tại các nước thuộc Khối Thịnh vượng chung, bằng MD là một lựa chọn đòi hỏi đào tạo bổ sung chương trình bác sĩ. |
| Cử nhân Y khoa & Cử nhân Ngoại khoa (MBBS) | Medical Bachelor and Bachelor of Surgery | Văn bằng hướng đến cấp giấy phép hành nghề thực hành tại các nước thuộc Khối Thịnh vượng chung. |
| Cử nhân Y khoa & Cử nhân Ngoại khoa (MBChB) | Medical Bachelor and Surgical Bachelor | Văn bằng hướng đến cấp giấy phép hành nghề thực hành tại các nước thuộc Khối Thịnh vượng chung. |
Tiến trình hài hòa giáo dục y khoa và xu hướng hội tụ quốc tế
Mặc dù sự thỉnh cầu này được đề cập đến ở nhiều cấp, sự nỗ lực nhằm hài hòa giáo dục y khoa giữa các quốc gia chỉ đạt được một số thành công nhất định. Năm 1999, chính phủ các quốc gia trong EU và một số nước lân cận đồng ý thống nhất giáo dục bậc cao theo 3 giai đoạn: cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ. Tiến trình Bologna (Bologna Process) được chấp thuận với giáo dục bậc cao ở 48 quốc gia nhưng có ngoại lệ cho đào tạo y khoa và chỉ có 7 quốc gia chấp thuận. 7 quốc gia này tổ chức đào tạo y khoa bậc đại học (undergraduate) theo 2 giai đoạn (cử nhân và thạc sĩ), trong khi các quốc gia khác không công nhận. Như vậy, nỗ lực này lại tạo ra sự phân hóa lớn hơn là hài hòa.
WFME có cách tiếp cận khác: thay vì hài hòa về cấu trúc chương trình giáo dục y khoa, họ đưa ra 106 tiêu chuẩn cơ bản và 90 tiêu chuẩn cải thiện chất lượng dựa trên sự đồng thuận, tạo ra khung cho các trường y khoa, đơn vị cung cấp đào tạo y khoa và các tổ chức kiểm định để xác định các chuẩn mực cho cơ sở đào tạo, quốc gia và khu vực, đồng thời kẻ vạch cho cải tiến chất lượng. Cách tiếp cận này giúp, thậm chí đẩy mạnh đa dạng hóa chương trình đào tạo, cắt ngang qua sự liên tục của đào tạo y khoa, vẫn đảm bảo chứa đựng các bối cảnh về kinh tế, văn hóa, xã hội trong khi lại có một khung chương trình đào tạo được thừa nhận quốc tế dẫn dắt phát triển chương trình đào tạo, lượng giá người học, phát triển đội ngũ nhân viên và đánh giá chương trình đào tạo.
Có lẽ không có lý do thuyết phục hay bất cứ cơ hội thành công nào nếu ép buộc các quốc gia chấp thuận một cấu trúc hay thuật ngữ giống nhau nếu chỉ vì không thể xác định được mô hình nào tốt hơn mô hình nào. Nhưng rõ ràng là việc hội nhập quốc tế về giáo dục y học tự nhiên sẽ trở nên mãnh liệt hơn. Các trường và các quốc gia học hỏi từ các ấn bản khoa học, thông qua hội thảo, trao đổi sinh viên, giảng viên và có thể kỳ vọng thông qua tiến trình phát triển chương trình đào tạo tự nhiên này, tiếp nhận được thông tin đầy đủ từ các quốc gia khác đã làm và giáo dục y học sẽ dần dần hội tụ về những mô hình giống nhau nhiều hơn.
Mời đón đọc Bài 2: Mục đích, các ưu tiên và bài toán chiến lược cho tương lai giáo dục y khoa