Đổi mới cách triển khai nhiệm vụ công nghệ chiến lược: Quản lý kết quả đầu ra thay vì nặng về thủ tục

Xã hội
SKĐS - Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định nhấn mạnh phải quản lý theo kết quả đầu ra thay vì nặng về thủ tục; bắt đầu từ bài toán thực tế thay vì đề xuất nhiệm vụ; kết quả phải được đo bằng năng lực làm chủ công nghệ và sản phẩm ứng dụng thực tế.

Phải làm chủ ít nhất 4 công nghệ quốc gia trong vòng 5 năm tới

Ngày 10/8/2026, Bộ KH&CN tổ chức Hội nghị phổ biến các văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược.

Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1493/QĐ-TTg ngày 6/8/2026, thực hiện trong giai đoạn 2026-2035, do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì quản lý.

Chương trình được xây dựng trên cơ sở Nghị quyết 57-NQ/TW, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025, Luật Công nghệ cao năm 2025, Nghị định 260/2026/NĐ-CP và Quyết định 21/2026/QĐ-TTg. Đối tượng gồm 10 công nghệ chiến lược và 30 sản phẩm công nghệ chiến lược, tập trung vào các lĩnh vực như công nghệ số, bán dẫn, robot và tự động hóa, sinh học - y sinh, năng lượng và vật liệu tiên tiến, an ninh mạng, lượng tử, hàng không - vũ trụ và đường sắt tốc độ cao.

Đổi mới cách triển khai nhiệm vụ công nghệ chiến lược: Quản lý kết quả đầu ra thay vì nặng về thủ tục - Ảnh 1.

Toàn cảnh hội nghị. Ảnh: T.Hà

Chương trình đặt mục tiêu lấy sản phẩm và thương mại hóa làm thước đo hiệu quả, xác định doanh nghiệp là trung tâm, viện nghiên cứu và cơ sở giáo dục đại học là lực lượng nòng cốt; đồng thời thúc đẩy hợp tác Nhà nước - doanh nghiệp - tổ chức khoa học và công nghệ.

Giai đoạn 2026-2030 phấn đấu làm chủ ít nhất 4 công nghệ, phát triển và thương mại hóa tối thiểu 15 sản phẩm, trong đó 5 sản phẩm tại thị trường khu vực hoặc quốc tế; giai đoạn 2031-2035 nâng lên 6 công nghệ và 25 sản phẩm.

Chương trình triển khai 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, gồm hoàn thiện cơ chế chính sách; nghiên cứu, phát triển sản phẩm; hỗ trợ thương mại hóa và thị trường; phát triển nhân lực, hợp tác quốc tế; theo dõi, đánh giá và điều phối.

Nguồn kinh phí gồm ngân sách nhà nước và các nguồn hợp pháp khác. Kinh phí ngân sách được khoán chi theo kết quả tại các mốc đánh giá. Chương trình được đánh giá giữa kỳ năm 2030 và hoàn thành các nhiệm vụ trước ngày 30/9/2035, trừ trường hợp được cấp có thẩm quyền quyết định khác.

Tiếp đó, Thông tư số 48/2026/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ quy định trình tự, thủ tục xét tài trợ, đặt hàng, thẩm định, phê duyệt tổ chức chủ trì, kinh phí và ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược.

Nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược hướng tới nghiên cứu, phát triển, làm chủ, hoàn thiện hoặc tạo ra công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược theo danh mục do Thủ tướng Chính phủ ban hành. Nhiệm vụ có thể được tổ chức dưới hình thức nhiệm vụ đơn lẻ, cụm nhiệm vụ hoặc chuỗi nhiệm vụ có sự liên kết chặt chẽ về mục tiêu, nội dung và kết quả.

Thông tư quy định mỗi nhiệm vụ phải được cấp mã số duy nhất để quản lý, theo dõi và lưu trữ. Nội dung thực hiện được chia thành các gói công việc và mốc đánh giá, trong đó xác định rõ mục tiêu, sản phẩm đầu ra, chỉ tiêu kỹ thuật, kinh phí, tiến độ và trách nhiệm của tổ chức chủ trì.

Sau khi có kết quả, cơ quan quản lý phê duyệt tổ chức chủ trì, kinh phí và thời gian thực hiện, sau đó ký hợp đồng trong thời hạn 10 ngày làm việc. Tổ chức chủ trì phải bảo đảm sản phẩm, tiến độ, quản lý kinh phí đúng quy định và báo cáo tại các mốc đánh giá. Thông tư có hiệu lực từ ngày 1/8/2026.

Quản lý kết quả đầu ra thay vì nặng về thủ tục

Phát biểu tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định nhấn mạnh 3 yêu cầu: quản lý theo kết quả đầu ra thay vì nặng về thủ tục; bắt đầu từ bài toán thực tế thay vì đề xuất nhiệm vụ; kết quả phải được đo bằng năng lực làm chủ công nghệ và sản phẩm ứng dụng thực tế.

Đổi mới cách triển khai nhiệm vụ công nghệ chiến lược: Quản lý kết quả đầu ra thay vì nặng về thủ tục - Ảnh 2.

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định phát biểu chỉ đạo tại hội nghị. Ảnh: T.Hà

Theo cách tiếp cận mới, nhiệm vụ được chia theo từng gói công việc, gắn với các mốc đánh giá; tăng quyền tự chủ chuyên môn, bảo đảm thù lao tương xứng cho nhà khoa học và từng bước quản lý đồng bộ trên môi trường số, giảm hồ sơ, báo cáo giấy.

Đại diện Quỹ Phát triển Khoa học công nghệ Quốc gia (Nafosted) cho biết, cơ chế tài chính cho nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược được thiết kế theo hướng nguồn lực đi theo gói công việc, mốc đánh giá và kết quả đầu ra, đồng thời tăng quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình.

Ngân sách nhà nước (NSNN) hỗ trợ tối đa 100% đối với công nghệ lõi, công nghệ nền tảng, công nghệ có ý nghĩa quan trọng với năng lực tự chủ quốc gia, quốc phòng, an ninh và các nhiệm vụ có rủi ro cao. Với sản phẩm công nghệ chiến lược có khả năng ứng dụng, chuyển giao, thương mại hóa, mức hỗ trợ tối đa 70%, phần còn lại do tổ chức chủ trì và các bên tham gia đối ứng.

Kinh phí đối ứng được mở rộng, có thể gồm tiền, nhân lực, thiết bị, hạ tầng, tài sản trí tuệ và các nguồn lực hợp pháp trực tiếp phục vụ nhiệm vụ. Dự toán được lập theo gói công việc (WP), trong đó xác định mục tiêu, sản phẩm đầu ra, kinh phí, trách nhiệm và thời gian thực hiện. Với nội dung chưa có định mức, có thể căn cứ hợp đồng tương tự, giá thị trường, báo giá, thẩm định giá và các căn cứ hợp pháp khác; tổ chức chủ trì phải chịu trách nhiệm về tính cần thiết, hợp lý, hợp pháp và khả thi.

Cơ chế thù lao chuyển sang tính theo vị trí công việc, mức độ tham gia, với mức trần riêng; đồng thời cho phép thuê chuyên gia trong và ngoài nước với mức cao hơn trong trường hợp đặc biệt. Kinh phí dự phòng tối đa 10% tổng dự toán NSNN.

Dòng tiền được gắn với kết quả: Hội đồng đánh giá tại từng mốc, đạt yêu cầu thì thanh toán và cấp kinh phí giai đoạn tiếp theo. Cơ chế mới tăng tự chủ về kinh phí, mua sắm, phương án nghiên cứu và nhiệm vụ cấp bách, nhưng đi kèm minh bạch, giám sát rủi ro và trách nhiệm giải trình.

Đổi mới cách triển khai nhiệm vụ công nghệ chiến lược: Quản lý kết quả đầu ra thay vì nặng về thủ tục - Ảnh 3.Khoa học công nghệ mở không gian phát triển mới cho tăng trưởng của Việt Nam

SKĐS - Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cần trở thành động lực kiến tạo các không gian phát triển mới, từ biển, không gian ngầm, không gian số đến vũ trụ. Đây là thông điệp được nhấn mạnh tại Hội thảo quốc tế về không gian phát triển của Việt Nam




Ý kiến của bạn