Đôi điều so sánh văn hoá Việt-Nhật

Văn hóa – Giải trí
Có thể mở rộng phạm vi cho người Việt, vì tôi thấy một số nhận xét của anh cũng phù hợp với vài ý kiến của tôi trong Hoa anh đào và điện tử - chân dung văn hoá Nhật Bản (1990 và 2006).

Bác sĩ Bùi Minh Đức ở California, một nhà "Huế học" tận tụy, có nêu lên "vài điểm văn hoá tương đồng giữa người Huế và người Nhật" (Chữ nghĩa tiếng Huế, NXB Thuận Hoá, 2008). Có thể mở rộng phạm vi cho người Việt, vì tôi thấy một số nhận xét của anh cũng phù hợp với vài ý kiến  của tôi trong Hoa anh đào và điện tử - chân dung văn hoá Nhật Bản (1990 và 2006).

Một nhận xét của anh về sự giống nhau Huế-Nhật là ngại bị "mất mặt". Nói một cách khác là sĩ diện, giữ thể diện. Đây là một đặc điểm văn hoá ứng xử không những của người Nhật, người Huế mà cả các dân tộc Á Đông chịu ảnh hưởng của Khổng giáo và cấu trúc xã hội nông nghiệp, phụ quyền, làng xã...

Trà đạo Nhật Bản.

Bà Y.Higachi có làm một luận văn cao học về Tính cộng đồng ở Việt Nam và Nhật Bản qua lăng kính sĩ diện (1997) sau khi ở Hà Nội nhiều năm. Bà đánh giá là người Việt Nam cũng có tính sĩ diện như người Nhật, có phần hơn nữa. Theo Hofstede, các nền văn hoá khác nhau do nặng về tính chất cộng đồng (collectivism) hay tính cá thể (individualism). E.Hall phân biệt các xã hội có bối cảnh văn hoá thấp (low level context culture) mang tính cá thể như ở châu Âu và Bắc Mỹ, và những xã hội có bối cảnh văn hoá cao, nặng tính cộng đồng như ở châu Á, châu Phi, Mỹ La tinh.

Các nhận định trên là cái gốc của khái niệm sĩ diện của Nhật-Việt. Tác  giả Bùi Minh Đức dẫn chứng một số thí dụ ở Huế:

Để khỏi "mất mặt", vị quan về hưu nghèo lén cho bán một đồ quý  gì đó để lấy tiền làm bữa cơm sang thết bạn, đồ đưa ra khỏi nhà trong cái quả đỏ phủ khăn điều, gia nhân đội trên đầu, làm bộ đem đi biếu xén. Có người nghèo túng, ngày giỗ kỵ bố mẹ không tổ chức to được, trốn ở trong nhà, khách đến cho người bảo là đi vắng. Nghèo mấy, ra ngoài cũng phải ăn mặc tươm tất áo dài, đội nón. Ở Nhật, "mất mặt" theo truyền thống võ sĩ đạo có thể dẫn đến harakiri (mổ bụng tự sát), bị "mất mặt " phải trả thù bằng cách làm đối thủ cũng "mất mặt".

Nhà nữ dân tộc học Mỹ Ruth Benedict giải thích tính cực đoan của "sĩ diện" phương Đông như sau:  Sĩ diện quá cao là do đạo đức Nhật và phương Đông thuộc loại "văn hoá hổ thẹn", xấu hổ đối với cộng đồng là chính, còn trong nội tâm mình thì tội lỗi đó không thành vấn đề gì lắm. Còn văn hoá phương Tây chịu ảnh hưởng Kitô giáo, thuộc loại "văn hoá tội lỗi" đối với Chúa, cá nhân xưng tội với Chúa  là thanh thản.

Dịu dàng thiếu nữ Huế.

Theo Bùi Minh Đức: vấn đề bạn tâm giao, người Huế có bạn cốt thiết, suốt đời, thân quá anh em. Loại bạn này cả đời chỉ có độ một hai người. Người Nhật lại còn khó hơn về bạn tâm giao, vì họ lệ thuộc vào   nhiều cộng đồng lớn nhỏ: phe nhóm, gia đình, công ty, nơi làm việc. Khi đi làm, tình bạn thời đi học thường nhạt đi. Ít khi một kỹ sư hãng Toshiba thân với một kỹ sư hãng Matsushita. Từ những năm 1980, không khí bạn bè cởi mở hơn, nhưng không dễ dàng như ở Huế.

Về tình yêu và hôn nhân. Ở Huế, trước 1945, hôn nhân là do cha mẹ dàn xếp, ít có tự do yêu đương. Do chiến tranh, trai gái yêu nhau, lấy nhau, chỉ báo cho cha mẹ. Sau chiến tranh, có phần lại quay về phong tục cũ ít nhiều. Ở Nhật, mãi đến thời canh tân Minh Trị (1868) thì sự đóng khung trong đẳng cấp, giai tầng xã hội mới chấm dứt, cưới xin không còn bắt buộc phải có sự chấp nhận của chính quyền địa phương. Nhưng việc mai mối về gia đình  sắp đặt vẫn còn khá phổ biến. Nói chung là thoải mái hơn và dịch vụ hôn nhân rất phát triển. Về mẫu người nam nữ, con gái Huế và Nhật đều duyên dáng, hiền thục, đủ công, dung, ngôn, hạnh. Con trai cũng vậy, có tính cách thanh lịch cao quý, một mẫu "gentleman" Anh với các tiêu chuẩn khác. Lý tưởng nam nhi Nhật là Hinkaku (có tài đức khiêm nhường và luôn đàng hoàng). Cũng vì lý tưởng này mà một chính khách lãnh đạo một ngành, khi trong ngành có gì khiếm khuyết, đứng ra chịu trách nhiệm đàng hoàng. Thí dụ có tai nạn xe lửa lớn, máy bay rơi chết nhiều hành khách, bộ trưởng xin từ chức. Điều này hiếm thấy ở ta. Về phát ngôn, người Huế và người Nhật đều nói ít hiểu nhiều. Một tiếng hừ hay ừ của người Huế có khi mang nặng tình yêu thương. Có lẽ vì đất Huế nghèo, người dân cùng phải đấu tranh để tồn tại nên dễ thông cảm nhau. Người Nhật sống riêng biệt ở đảo, qua bao đời cùng xây dựng một nền văn hoá nên cũng dễ đồng cảm nói ít hiểu nhiều.

E lệ, thẹn thùng làm tăng duyên thầm người con gái Huế, nhất là  ở nơi công cộng, đặc điểm này đang bị xói mòn trong đời sống hiện đại. Phụ nữ Nhật cũng e lệ thẹn thùng theo truyền thống. Cả nam giới khi tiếp xúc với người nước ngoài cũng dè dặt hơn ở phương Tây. Dĩ nhiên thời thế đã làm thay đổi ít nhiều. Người Huế thích cái thanh, tránh cái thô từ nói năng, đồ vật đến ăn uống. Bữa ăn rất nhiều đĩa bát mà chất ăn chẳng bao nhiêu, có khi khách ăn đói. Thân hình cô gái phải thanh, cử chỉ nhẹ nhàng, cây cảnh núi non bộ nhỏ bé thôi. Người Nhật cũng thích cái gì kei (nhẹ), haku (thanh), sho (nhỏ). Do đó mà những năm 1950 xuất hiện những chiếc radio Sony Hitachi, năm 1960 máy ảnh Nikon, Canon, năm 1970 computer Sharp, Sony. Năm 1980 xe hơi Honda, Toyota... ít tốn nguyên liệu, năng lượng, dễ chiếm thị trường thế giới. Nhà ở không ưa xây to, vừa đủ ở, nhất là những trà thất chỉ đủ chỗ cho vài người ngồi, cũng là để giáo dục tính khiêm nhường.          

Hữu Ngọc


Ý kiến của bạn