Doanh nghiệp phá sản và những hệ lụy

Thời sự
Thống kê của Chi cục Thuế TP.HCM cho thấy, năm 2011, có hàng nghìn doanh nghiệp (DN) ngừng hoạt động và đây là con số lớn nhất trong 20 năm qua.
Thống kê của Chi cục Thuế TP.HCM cho thấy, năm 2011, có hàng nghìn doanh nghiệp (DN) ngừng hoạt động và đây là con số lớn nhất trong 20 năm qua. Nền kinh tế năm 2012 được dự báo sẽ còn tiếp tục khó khăn. Giá cả một số hàng hóa liên quan đến đầu vào như xăng, điện, gas có xu hướng tăng. TP.HCM lâu nay được đánh giá là có môi trường đầu tư tốt mà còn như vậy, với các DN ở những địa phương khác, tình hình chắc còn xấu hơn.

Chỉ trong hai tháng đầu năm 2012, đã có hơn 2.500 DN ở TP.HCM ngừng hoạt động. Nhiều DN làm ăn thua lỗ, trong đó không ít DN giải thể, phá sản và tình trạng này được dự báo là sẽ còn tiếp tục diễn ra trong thời gian tới.

Nguyên nhân dẫn đến sự đổ vỡ của hàng loạt DN có thể kể ra rất nhiều, từ những tác động khách quan của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu đến các vấn đề trong điều hành nền kinh tế và cả nguyên nhân chủ quan từ những yếu kém của mỗi DN. Có thể thấy, dựa vào nội lực chưa đủ mạnh nếu không nói là còn yếu nên trong những năm qua, các DN Việt Nam phát triển mạnh nhưng chủ yếu là về số lượng, trong khi đó, chất lượng lại không tỷ lệ thuận cùng với số lượng.
 
Việc đầu tư cho công nghệ thấp, công nghệ lạc hậu; Nhận thức về kinh doanh, về quản trị DN của không ít doanh nhân thường chạy theo lợi ích trước mắt, nặng về thu hồi vốn càng nhanh càng tốt mà không chú trọng đến phát triển thị trường, xây dựng chất lượng và thương hiệu… Chính vì thế, trước những biến động bất thường, đặc biệt từ thị trường tài chính, DN không đủ sức mạnh để cạnh tranh và rất dễ đổ vỡ.

Tuy nhiên, nguyên nhân chính khiến nhiều DN ngừng hoạt động, phá sản là nhu cầu vay vốn nhiều để kinh doanh nhưng thực tế lại rất khó tiếp cận nguồn vốn, trong khi lãi suất quá cao. Do đó, hơn 60% DN vừa và nhỏ ở TP rơi vào tình trạng không đủ vốn duy trì hoạt động. Một trong những vấn đề lớn đặt ra hiện nay là vốn, bởi tiếp cận rất khó và đặc biệt là DN thường phải trả lãi cao hơn quy định.

Vốn kinh doanh hiện nay của các DN chủ yếu dựa vào ngân hàng, trong khi lợi nhuận của các DN thường khoảng từ 10 -15%. Nếu DN hoạt động chủ yếu dựa vào tiền vay, phải gánh lãi suất như thời gian vừa qua khoảng trên 20% thì bao nhiêu công sức làm ra, lợi nhuận của DN sẽ không thấm vào đâu bởi lãi suất ngân hàng.
 
Mặc dù Nhà nước đã có nhiều biện pháp điều chỉnh lãi suất hợp lý trong từng giai đoạn cụ thể, nhưng rõ ràng khâu thực hiện còn không ít chuyện đáng bàn, đòi hỏi cần quản lý, giám sát chặt chẽ. Việc điều tiết hợp lý nguồn vốn cho các DN sản xuất, kinh doanh tạo giá trị thặng dư cho xã hội là rất cần thiết nhằm bảo đảm an sinh xã hội, ổn định đời sống nhân dân; bởi mỗi DN phá sản sẽ kéo theo không ít lao động mất việc…

Một vấn đề khó hiện nay cho các ngân hàng là trong khi đó, tỷ lệ nợ xấu vẫn là cả vấn đề, tính thanh khoản chưa ổn định, thế nên dù lạm phát đã được kiềm chế trong những tháng vừa qua, các ngân hàng vẫn chưa thể mở rộng cho các DN vay vốn.

Trong thời gian qua, Chính phủ đã có chỉ đạo hạ ngay lãi suất ngân hàng và Ngân hàng Nhà nước đã có những động thái khẩn trương thực hiện là một tín hiệu tích cực. Tuy nhiên, vấn đề mấu chốt là bên cạnh việc hạ lãi suất, cần có những cơ chế để DN tiếp cận nguồn vốn. Và DN cũng cần thay đổi cung cách làm ăn, tự tái cơ cấu chính mình để đủ sức trụ vững trước sóng gió.
 
Thúc đẩy sản xuất, kinh doanh không chỉ cần có hệ thống luật rõ ràng, minh bạch, bình đẳng, công khai… mà còn cần tới sự vào cuộc của cả cộng đồng. Bởi vì mỗi DN phá sản thì người thiệt thòi đầu tiên là người lao động vì họ bị nợ lương, nợ bảo hiểm…, Nhà nước mất một nguồn thu. Chính vì thế, giúp DN tiếp cận nguồn vốn là vấn đề cần phải làm gấp trong tình hình kinh tế khó khăn hiện nay. Đây là vấn đề đặt ra không chỉ với đội ngũ doanh nhân, các DN mà còn cả với các nhà hoạch định chính sách.     

 Ngọc Đỗ


Ý kiến của bạn