Doanh nghiệp có trách nhiệm gì trong việc bảo vệ sức khỏe người lao động?

Xã hội
SKĐS - Ngoài tổ chức khám sức khỏe định kỳ hàng năm, doanh nghiệp còn có trách nhiệm gì để bảo vệ sức khỏe cho người lao động?

Nhiều doanh nghiệp cho rằng tổ chức khám sức khỏe định kỳ hằng năm là đã thực hiện đầy đủ trách nhiệm chăm sóc sức khỏe người lao động. Tuy nhiên, theo Luật An toàn, vệ sinh lao động và các quy định của Bộ Y tế, trách nhiệm của người sử dụng lao động rộng hơn nhiều: Từ nhận diện, kiểm soát yếu tố có hại tại nơi làm việc, quan trắc môi trường lao động, quản lý hồ sơ sức khỏe đến khám phát hiện bệnh nghề nghiệp, điều trị, phục hồi chức năng và bố trí công việc phù hợp cho người lao động.

1. Bảo vệ sức khỏe phải bắt đầu từ nơi làm việc

Người lao động có thể phải tiếp xúc với nhiều yếu tố nguy cơ trong quá trình làm việc như bụi silic, amiăng, hóa chất, kim loại nặng, tiếng ồn, rung, nhiệt độ cao, bức xạ, vi sinh vật hoặc các yếu tố ergonomic (như tư thế lao động, lực tác động, động tác lặp đi lặp lại…).

Điều đáng lưu ý là nhiều tác hại nghề nghiệp không gây bệnh ngay lập tức. Có những bệnh xuất hiện sau nhiều năm tiếp xúc, thậm chí biểu hiện khi người lao động đã chuyển công việc hoặc nghỉ việc. Vì vậy, nguyên tắc quan trọng nhất trong bảo vệ sức khỏe nghề nghiệp là phòng bệnh phải bắt đầu từ kiểm soát nguy cơ tại nơi làm việc, chứ không thể đợi đến khi người lao động có triệu chứng mới tiến hành khám và điều trị.

Điều 18 Luật An toàn, vệ sinh lao động quy định người sử dụng lao động phải tổ chức đánh giá, kiểm soát các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại tại nơi làm việc để đề ra các biện pháp kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động và chăm sóc sức khỏe người lao động. Đối với các yếu tố có hại đã được Bộ Y tế quy định giới hạn tiếp xúc cho phép, người sử dụng lao động phải tổ chức quan trắc môi trường lao động ít nhất một lần trong một năm.

Quan trắc môi trường lao động vì thế không đơn thuần là một thủ tục hành chính. Kết quả quan trắc giúp doanh nghiệp biết người lao động đang tiếp xúc với yếu tố gì, mức độ bao nhiêu, nhóm lao động nào có nguy cơ cao và cần áp dụng biện pháp kiểm soát nào. Nếu phát hiện bụi, hóa chất, tiếng ồn hoặc các yếu tố có hại vượt giới hạn cho phép, doanh nghiệp không thể chỉ dừng lại ở việc ghi nhận kết quả mà cần thực hiện biện pháp kỹ thuật, công nghệ, thông gió, che chắn, cách ly nguồn phát sinh, thay đổi quy trình hoặc tổ chức lao động nhằm giảm mức phơi nhiễm.

Doanh nghiệp có trách nhiệm gì trong việc bảo vệ sức khỏe người lao động? - Ảnh 1.

Quan trắc môi trường lao động là yếu tố quan trọng bảo vệ sức khỏe người lao động. Ảnh AI

2. Doanh nghiệp phải quản lý cả môi trường lao động và hồ sơ sức khỏe

Thông tư 19/2016/TT-BYT của Bộ Y tế về quản lý vệ sinh lao động và sức khỏe người lao động đã xác định một hệ thống quản lý khá toàn diện tại cơ sở lao động.

Theo đó, nội dung quản lý vệ sinh lao động bao gồm lập và cập nhật hồ sơ vệ sinh lao động; quan trắc môi trường lao động; khám sức khỏe trước khi bố trí việc làm, khám sức khỏe định kỳ, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp; kiểm soát và giảm thiểu tác động của yếu tố có hại; phòng chống dịch bệnh; bảo đảm an toàn thực phẩm; nâng cao sức khỏe; bảo đảm các công trình vệ sinh, phúc lợi và tổ chức lực lượng sơ cứu, cấp cứu tại nơi làm việc.

Như vậy, chăm sóc sức khỏe nghề nghiệp phải dựa trên sự kết nối của ít nhất ba nhóm thông tin: Điều kiện và môi trường lao động → mức độ phơi nhiễm của người lao động → tình trạng sức khỏe và bệnh nghề nghiệp.

Nếu ba nhóm dữ liệu này tách rời nhau, việc khám sức khỏe rất dễ trở thành hình thức. Một công nhân có kết quả X-quang hoặc chức năng hô hấp bất thường chẳng hạn sẽ khó được đánh giá chính xác nguy cơ nghề nghiệp nếu cơ sở khám không biết người đó đã làm công việc gì, trong bao lâu và đã tiếp xúc bụi hoặc hóa chất ở mức độ nào.

3. Sơ cứu, cấp cứu tại nơi làm việc cũng là trách nhiệm bắt buộc

Bảo vệ sức khỏe người lao động không chỉ liên quan đến bệnh nghề nghiệp mạn tính mà còn phải sẵn sàng ứng phó với tai nạn và các tình trạng cấp tính tại nơi làm việc. Thông tư 19/2016/TT-BYT yêu cầu cơ sở lao động tổ chức lực lượng sơ cứu, cấp cứu và bảo đảm trang thiết bị phù hợp.

Người được phân công tham gia lực lượng sơ cứu, cấp cứu phải được huấn luyện; việc huấn luyện lại được thực hiện theo quy định. Thông tư đồng thời quy định chế độ báo cáo y tế lao động đối với cơ sở lao động.

Điều này đặc biệt quan trọng tại các ngành có nguy cơ cao như xây dựng, khai khoáng, hóa chất, luyện kim, cơ khí, điện, vận tải hoặc những nơi có nguy cơ ngộ độc cấp, bỏng hóa chất và tai nạn nghiêm trọng.

4. Trách nhiệm doanh nghiệp khi có người lao động mắc bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động

Theo Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động, khi người lao động bị tai nạn lao động hoặc mắc bệnh nghề nghiệp, người sử dụng lao động còn có trách nhiệm về sơ cứu, cấp cứu, chi phí điều trị, tiền lương trong thời gian điều trị theo quy định, bồi thường hoặc trợ cấp, giới thiệu giám định y khoa và bố trí công việc phù hợp sau khi người lao động trở lại làm việc.

Điều này cho thấy bệnh nghề nghiệp không chỉ là vấn đề của cơ sở y tế. Phòng chống bệnh nghề nghiệp trước hết là trách nhiệm quản lý nguy cơ của doanh nghiệp.

5. Đừng đợi người lao động mắc bệnh mới hành động

Một hệ thống bảo vệ sức khỏe người lao động đúng nghĩa cần được vận hành theo chuỗi: Nhận diện nguy cơ → đánh giá phơi nhiễm → kiểm soát yếu tố có hại → quan trắc môi trường lao động → quản lý hồ sơ sức khỏe → khám sức khỏe và khám phát hiện bệnh nghề nghiệp → phát hiện sớm → điều trị, phục hồi chức năng → bố trí công việc phù hợp → cải thiện môi trường làm việc.

Điểm cần thay đổi trong nhận thức của một số doanh nghiệp là không nên coi khám sức khỏe hằng năm là "đích đến" của công tác chăm sóc sức khỏe người lao động. Khám sức khỏe chỉ thực sự có giá trị khi được đặt trong một hệ thống quản lý nguy cơ nghề nghiệp.

Mục tiêu cuối cùng không phải là phát hiện thật nhiều người mắc bệnh nghề nghiệp, mà là không để người lao động mắc bệnh vì công việc của mình. Đó vừa là trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp, vừa là đầu tư cho nguồn nhân lực, năng suất và sự phát triển bền vững của chính doanh nghiệp.

Mời bạn xem thêm:

Doanh nghiệp có trách nhiệm gì trong việc bảo vệ sức khỏe người lao động? - Ảnh 3.5 nhóm người cần thận trọng khi ăn đu đủ để bảo vệ sức khỏe

SKĐS - Mặc dù đu đủ là loại trái cây bổ dưỡng nhưng một số nhóm người nên cẩn trọng khi ăn đu đủ để bảo vệ sức khỏe.

Trưởng khoa Bệnh nghề nghiệp, Viện Sức khỏe nghề nghiệp và môi trường, Bộ Y tế
Ý kiến của bạn