Người bệnh viêm gan B mạn cần dùng thuốc kháng virus đúng liều, đủ thời gian theo chỉ định và không tự ý ngừng thuốc khi chưa có ý kiến của bác sĩ chuyên khoa. Khi xuất hiện mệt mỏi, chán ăn, vàng da, vàng mắt hoặc các dấu hiệu bất thường, cần đi khám để được đánh giá.
Người bệnh cũng không nên tự sử dụng thuốc "bổ gan", thuốc đông y, thuốc nam không rõ nguồn gốc. Với thuốc giảm đau, hạ sốt, kể cả paracetamol, người mắc viêm gan B nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng, đặc biệt khi đang có tổn thương gan hoặc mắc đồng thời bệnh tim mạch, đái tháo đường, suy thận.
Tuy nhiên, không phải tất cả người nhiễm HBV đều cần dùng thuốc ngay. Việc điều trị phụ thuộc vào tình trạng nhiễm virus, mức độ tổn thương gan, tải lượng virus và nhiều yếu tố khác. Do đó, người bệnh cần được thăm khám, xét nghiệm và theo dõi định kỳ theo chỉ định của bác sĩ.
1. Điều trị viêm gan B sau phơi nhiễm
Khi nghi ngờ đã tiếp xúc với virus viêm gan B qua máu, quan hệ tình dục hoặc các hình thức phơi nhiễm khác, cần đến cơ sở y tế càng sớm càng tốt để được đánh giá nguy cơ.
Tùy tình trạng miễn dịch và nguồn phơi nhiễm, người chưa có miễn dịch có thể được chỉ định vaccine viêm gan B và/hoặc globulin miễn dịch viêm gan B (HBIG). Biện pháp dự phòng cần được thực hiện càng sớm càng tốt, đặc biệt sau phơi nhiễm có nguy cơ cao.
2. Điều trị viêm gan B cấp tính
Phần lớn trường hợp viêm gan B cấp tính ở người trưởng thành có thể tự kiểm soát virus và hồi phục mà không cần điều trị thuốc kháng virus đặc hiệu. Người bệnh thường được hướng dẫn nghỉ ngơi hợp lý, bảo đảm dinh dưỡng và uống đủ nước.
Trong trường hợp viêm gan B cấp tính diễn biến nặng, có biểu hiện suy giảm chức năng gan hoặc suy gan cấp, người bệnh cần được điều trị và theo dõi tại bệnh viện. Một số trường hợp có thể cần sử dụng thuốc kháng virus theo chỉ định của bác sĩ.
Người bệnh không nên tự mua thuốc điều trị hoặc sử dụng các loại thuốc, thực phẩm bổ sung, thảo dược với mục đích "giải độc gan" khi chưa được tư vấn, bởi một số sản phẩm có thể gây tổn thương gan hoặc tương tác với thuốc.

Điều trị bệnh nhân suy gan và suy thận cấp nghiêm trọng tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương. Ảnh: Nguyễn Thanh
3. Điều trị viêm gan B mạn tính
Không phải tất cả người mắc viêm gan B mạn tính đều phải điều trị bằng thuốc ngay lập tức. Bác sĩ sẽ căn cứ vào kết quả xét nghiệm và tình trạng tổn thương gan để quyết định thời điểm, phương pháp điều trị phù hợp.
Mục tiêu điều trị là ức chế sự nhân lên của HBV, hạn chế tổn thương gan, giảm nguy cơ tiến triển thành xơ gan, suy gan và ung thư gan.
Các thuốc kháng virus đường uống, như nhóm thuốc có hoạt tính kháng HBV mạnh và nguy cơ kháng thuốc thấp, thường được sử dụng trong điều trị viêm gan B mạn tính khi có chỉ định. Một số trường hợp có thể được điều trị bằng interferon pegylated trong thời gian xác định. Việc lựa chọn thuốc phụ thuộc vào tình trạng bệnh, chức năng gan, thận, tuổi, bệnh kèm theo và các yếu tố khác.
Điều trị viêm gan B mạn tính có thể kéo dài nhiều năm, thậm chí lâu dài ở một số người bệnh. Vì vậy, người bệnh cần tuân thủ đúng phác đồ, không tự ý ngừng thuốc hoặc thay đổi liều.
Ở người bệnh đã tiến triển đến xơ gan mất bù hoặc suy gan giai đoạn cuối, ghép gan có thể được cân nhắc khi đáp ứng các điều kiện phù hợp. Đây là phương pháp thay thế phần hoặc toàn bộ gan bị tổn thương bằng gan của người hiến.
4. Ăn uống, sinh hoạt thế nào để bảo vệ gan?
Bên cạnh điều trị theo chỉ định, người bệnh viêm gan B cần duy trì lối sống lành mạnh nhằm hạn chế các yếu tố làm tổn thương gan.
Chế độ ăn nên đa dạng, cân đối, bảo đảm đủ năng lượng và dưỡng chất. Người bệnh nên ưu tiên rau xanh, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt, cá, thịt nạc, trứng, sữa và các loại đậu phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng. Không cần kiêng khem quá mức nếu không có chỉ định đặc biệt.
Quan trọng nhất, người bệnh cần tránh hoặc hạn chế tối đa rượu bia, bởi đồ uống có cồn có thể làm tăng tổn thương gan và thúc đẩy tiến triển bệnh, đặc biệt ở người đã có bệnh gan mạn tính.
Ngoài ra, cần duy trì cân nặng hợp lý, tập luyện thường xuyên, ngủ đủ và kiểm soát các bệnh lý chuyển hóa như béo phì, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu.
Người bệnh cũng nên trao đổi với bác sĩ trước khi sử dụng bất kỳ thuốc kê đơn, thuốc không kê đơn, thực phẩm bổ sung hoặc thảo dược nào. Một số sản phẩm có thể gây độc cho gan hoặc ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị.
Trong quá trình theo dõi, bác sĩ có thể chỉ định xét nghiệm và tầm soát các bệnh viêm gan khác. Người bệnh chưa có miễn dịch nên được tư vấn tiêm vaccine phòng viêm gan A.
5. Chủ động phòng ngừa lây nhiễm viêm gan B
Tiêm vaccine là biện pháp quan trọng nhất để phòng viêm gan B. Trẻ sơ sinh cần được tiêm liều vaccine viêm gan B đầu tiên càng sớm càng tốt, tốt nhất trong vòng 24 giờ sau sinh theo chương trình tiêm chủng và hướng dẫn của cơ sở y tế. Người chưa nhiễm HBV và chưa có miễn dịch cũng nên được tư vấn tiêm vaccine phù hợp.
Phụ nữ mang thai cần được xét nghiệm viêm gan B. Nếu mẹ nhiễm HBV, trẻ sơ sinh cần được tiêm vaccine viêm gan B và HBIG theo chỉ định, càng sớm càng tốt sau sinh, nhằm giảm nguy cơ lây truyền từ mẹ sang con.
Để hạn chế lây nhiễm, cần quan hệ tình dục an toàn; không dùng chung dao cạo râu, bàn chải đánh răng, kềm cắt móng hoặc những vật dụng có thể dính máu. Khi xăm mình, xỏ khuyên, làm đẹp, thực hiện thủ thuật y tế hoặc nha khoa, cần lựa chọn cơ sở bảo đảm dụng cụ được vô khuẩn đúng quy trình.
Phát hiện sớm, theo dõi định kỳ và điều trị đúng chỉ định giúp người mắc viêm gan B kiểm soát bệnh, giảm nguy cơ biến chứng và duy trì chất lượng cuộc sống. Người bệnh không nên tự ý ngừng thuốc hoặc tìm đến các phương pháp điều trị chưa được chứng minh, mà cần đồng hành lâu dài với bác sĩ chuyên khoa gan mật.
Suy gan cấp, rối loạn ý thức do tự ý ngừng thuốc điều trị viêm gan B
Sau hơn một tháng tự ý ngừng thuốc kháng virus điều trị viêm gan B, người đàn ông 67 tuổi nhập viện với suy gan cấp, hội chứng não gan, suy thận và rối loạn chuyển hóa.
Người bệnh P.Đ.T., 67 tuổi, ở Hà Nội, được chẩn đoán viêm gan B mạn tính cách đây 3 năm và điều trị bằng thuốc kháng virus hằng ngày. Người bệnh đồng thời mắc tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh động mạch vành và từng phẫu thuật bắc cầu động mạch vành do hẹp 3 thân mạch vành.
Khoảng 1 tháng 15 ngày trước khi nhập viện, do thấy bệnh ổn định, người bệnh tự ý ngừng thuốc kháng virus mà không tham khảo ý kiến bác sĩ.
Sau đó, người bệnh có lúc đau đầu và tự mua thuốc giảm đau, hạ sốt sử dụng. Khoảng 13 ngày trước khi vào Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, trong một lần tái khám tim mạch, người bệnh được phát hiện men gan tăng khoảng 500 U/L. Tuy nhiên, người bệnh không đi khám chuyên khoa gan mà tiếp tục tự mua thuốc "bổ gan" sử dụng.
Những ngày tiếp theo, người bệnh mệt mỏi, chán ăn, vàng da, vàng mắt tăng dần, có lúc nói lẫn, lơ mơ và phản ứng chậm. Gia đình đưa người bệnh đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cấp cứu.
Tại Trung tâm Hồi sức tích cực, người bệnh tỉnh chậm, Glasgow 13 điểm, rối loạn nhận thức, mất định hướng không gian. Da và củng mạc mắt vàng đậm, xuất huyết tại một số vị trí tiêm, bụng chướng do có dịch.
Xét nghiệm cho thấy GOT/GPT lần lượt 2.335/1.085 U/L. Chức năng thận suy giảm nhanh, creatinin tăng lên 366 µmol/L, trong khi 10 ngày trước đó là 140 µmol/L. CRP tăng 25,6 mg/L.
Các bác sĩ nhận định người bệnh bị đợt cấp viêm gan B mạn, suy gan cấp kèm hội chứng não gan độ II, suy thận cấp trên nền bệnh thận mạn, toan chuyển hóa nặng và nhiễm khuẩn huyết. Tình trạng càng phức tạp do người bệnh có nhiều bệnh lý nền về tim mạch, chuyển hóa và thận.
Người bệnh được hồi sức tích cực, đặt ống nội khí quản, thở máy, đặt catheter tĩnh mạch trung tâm, điều chỉnh rối loạn chuyển hóa và hỗ trợ chức năng các cơ quan.
Theo các bác sĩ, tự ý ngừng thuốc kháng virus ở người bệnh viêm gan B mạn có thể khiến virus hoạt động trở lại, làm tăng nguy cơ đợt cấp và tổn thương gan nghiêm trọng. Khi chức năng gan suy giảm cấp, người bệnh có thể xuất hiện rối loạn đông máu, rối loạn chuyển hóa, thay đổi ý thức và suy giảm chức năng các cơ quan khác.
