Di sản Việt Nam vươn ra thế giới

Văn hóa – Giải trí
Năm 2010 có thể coi là một năm thắng lợi của di sản Việt Nam (VN) khi chúng ta có thêm 3 di sản thế giới được vinh danh, đó là bia tiến sĩ Văn Miếu Quốc Tử Giám, Trung tâm Hoàng thành Thăng Long, Lễ hội Gióng.

Năm 2010 có thể coi là một năm thắng lợi của di sản Việt Nam (VN) khi chúng ta có thêm 3 di sản thế giới được vinh danh, đó là bia tiến sĩ Văn Miếu Quốc Tử Giám, Trung tâm Hoàng thành Thăng Long, Lễ hội Gióng. Thắng lợi đó đã làm dày thêm bộ sưu tập bằng chứng nhận di sản thế giới của VN. Sau gần 20 năm tham gia sân chơi quốc tế này (kể từ khi di sản đầu tiên là Cố đô Huế được công nhận năm 1993), đến nay chúng ta đã có 13 di sản được UNESCO ghi danh ở tất cả các hạng mục: di sản vật thể, phi vật thể, di sản thiên nhiên, di sản tư liệu.

 Lễ hội Gióng đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Trong niềm vui và tự hào trước những thắng lợi, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với những người đã đóng góp nhiều công sức và tâm huyết để hai chữ “Việt Nam” ngày càng đậm nét trên thế giới.

Ông Phạm Sanh Châu – Tổng Thư ký Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam: “Việt Nam còn nhiều di sản nữa xứng đáng được vinh danh!”

3 di sản được UNESCO ghi danh trong năm 2010 được xem như là một thắng lợi của ngành di sản VN. Ông có thể nói gì về thắng lợi này?

Từ thành công của năm 2010 với 3 di sản được vinh danh, chúng ta đã rút ra được rất nhiều bài học về công tác làm hồ sơ, trình hồ sơ và bảo vệ hồ sơ. Tôi rất tiếc là trong thời gian vừa qua, chúng ta chưa biết chớp thời cơ để ứng cử di sản “nhiệt tình” hơn. Những năm trước, UNESCO không khống chế số lượng di sản được công nhận, nhưng từ nay, mỗi nước chỉ được công nhận 2 bộ/năm để tránh tình trạng lạm phát di sản. Một số nước đã biết chớp cơ hội trước khi công ước mới có hiệu lực như Trung Quốc năm vừa rồi nộp tới 33 hồ sơ. Hàn Quốc nộp 12 hồ sơ. Vì thế họ đạt lợi thế hơn, ghi danh được nhiều hơn trên bản đồ di sản thế giới. Trong khi đó, chúng ta còn nhiều di sản quý nữa xứng đáng được UNESCO vinh danh, nhất là một số loại hình nghệ thuật truyền thống như: rối nước, hát then, đờn ca tài tử Nam Bộ, hát xoan... thì từ kỳ họp sau chắc chắn sẽ khó khăn hơn vì quy chế của UNESCO đã chặt chẽ hơn.

Hiện chúng tôi đang đề nghị các địa phương tiến hành rà soát để đề xuất những di sản đảm bảo tiêu chí UNESCO đề ra. Trong những năm tới, chúng ta sẽ chọn đăng ký những di sản nào có lợi ích kinh tế cao để bảo vệ bản quyền thương hiệu cho VN. Càng có nhiều di sản được vinh danh, chúng ta càng có cơ hội vàng để giới thiệu hình ảnh văn hóa VN ra nước ngoài. Việc trở thành di sản thế giới cũng giúp người dân tự hào về di sản, từ đó dẫn đến hành động bảo tồn.

GS. TSKH. Lưu Trần Tiêu – Chủ tịch  Hội Di sản văn hóa VN: “Vinh dự càng lớn, lợi ích càng nhiều, trách nhiệm càng cao”

Theo ông, chúng ta được lợi gì với những di sản được UNESCO công nhận là di sản thế giới?

Trước hết, logo của UNESCO sẽ được gắn lên di sản để khẳng định thương hiệu. Điều đó giúp tăng cường hình ảnh quốc gia, đồng thời lòng tự hào dân tộc cũng được nâng lên. Thứ hai, chúng ta có một thương hiệu để từ đó chuyển thành lợi ích kinh tế. UNESCO đã nói rất rõ, hằng năm, cứ mỗi địa danh được công nhận Di sản thế giới sẽ mang lại lợi ích kinh tế hơn 500 triệu USD. Cái được thứ ba là sự thừa nhận, bảo đảm bởi một công ước quốc tế về tính pháp lý và tính giá trị lịch sử của di sản. Nhìn chung, khi được ghi danh, sức hấp dẫn của di sản sẽ cao hơn và di sản được bồi đắp thêm giá trị. Di sản còn có thể được hưởng những quyền lợi từ quỹ bảo tồn và phát triển di sản do sự đóng góp của các tổ chức và cá nhân quốc tế…

Cùng với đó, công ước của UNESCO cũng quy định rất rõ, từ khi di sản được UNESCO công nhận thì nó không còn là tài sản của VN nữa mà là của thế giới. Chúng ta phải làm theo các khuyến nghị của UNESCO. Họ theo dõi quá trình này rất sát sao, nếu làm không đúng thì sẽ bị nhắc nhở, tiếp đó bị đưa vào danh sách cảnh báo đỏ và cuối cùng là tước danh hiệu. Như vậy, trách nhiệm và thách thức với chúng ta là rất lớn.

Bà Lê Thị Minh Lý – Phó Cục trưởng Cục Di sản văn hóa (Bộ  VH-TT&DL): “Không phải mọi nỗ lực đều là háo danh”

Trước việc chúng ta liên tục làm hồ sơ đề cử di sản và ngày càng có nhiều di sản được vinh danh, đã có một số dư luận trái chiều về “hành trình tìm kiếm danh hiệu di sản thế giới” của VN. Có người gọi đó là “hội chứng di sản”, lại có người bảo đó chẳng qua chỉ là trò “đánh trống ghi tên”. Bà nghĩ sao về điều này?

Trong khi những người làm công tác di sản đang nỗ lực hết mình để thật nhiều di sản của VN được vinh danh trên tầm quốc tế thì đã có người đưa ra những câu hỏi ngược: Hình như chúng ta đang khát danh hiệu di sản thế giới? Hình như danh hiệu di sản thế giới (nhất là di sản phi vật thể) đang ngày càng bão hòa?. Lý lẽ họ đưa ra là mỗi năm có trên dưới 100 di sản được đưa vào danh sách của UNESCO, vậy thì việc chúng ta được 2 - 3 di sản cũng không oách lắm và đâu có gì phải ầm ĩ. Nhưng nếu ta nhìn nhận việc vinh danh các di sản phi vật thể như một cách để đánh thức ý thức của cộng đồng đang lưu giữ chúng, như một cách để khẳng định sự đa dạng trong bản sắc văn hóa thì sẽ thấy rằng những nỗ lực của chúng tôi là không vô nghĩa.

Việc lập hồ sơ các di sản của VN đệ trình UNESCO công nhận là di sản thế giới trước hết là một hoạt động khoa học được quy định trong Luật Di sản văn hóa mà UNESCO đề ra nên không phải cứ muốn là được, càng không phải là chuyện nôn nóng hay háo danh. Cũng có thể đây đó có biểu hiện gọi là “hội chứng di sản” như nhiều người nói, tuy nhiên, đó chỉ là biểu hiện bề ngoài, cá biệt khi những hiểu biết về tiêu chí, quy trình đề cử di sản còn hạn chế. Chúng ta cần tuyên truyền để cho mọi người hiểu rõ, chứ không phải là châm biếm, giễu cợt.

Bà Katherine Muller Martin - Trưởng đại diện UNESCO tại VN:“Bằng di sản không phải để ngắm mà còn là sự nhắc nhở”

Hiện nay, cùng với sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, đặc biệt là các chuyên gia UNESCO, VN đang cố gắng để có nhiều di sản được công nhận. Vấn đề này có gì cần chú ý không, thưa bà?

Điều quan trọng không chỉ là vấn đề di sản được trao bằng công nhận mà là công tác giữ gìn và bảo tồn di sản đó. Bằng công nhận không để mang về ngắm mà còn là sự nhắc nhở để chúng ta tiếp tục nghiên cứu, bảo vệ và phát huy di sản một cách hiệu quả. 

Cũng đã từng có tiền lệ di sản bị UNESCO rút bằng công nhận. Đó là trường hợp Thung lũng Dresden của Đức. Ngay từ khi thành phố Dresden dự định xây cầu bắc qua sông, UNESCO đã cảnh báo như thế sẽ phá vỡ cảnh quan của thung lũng và khuyến nghị thay vì xây cầu nên xây hầm ngầm qua sông. Nhưng chính quyền tiểu bang vẫn quyết xây cầu. Cuối cùng, Ủy ban Di sản UNESCO đã rút danh hiệu của Dresden. Trường hợp thứ hai: Một nước Ả-rập phát hiện có mỏ dầu ở khu dự trữ sinh quyển, họ quyết định hy sinh danh hiệu để khoan dầu. Các nước có di sản thế giới cần luôn ghi nhớ rằng, việc trở thành di sản của thế giới đồng nghĩa với việc bảo tồn và phát huy giá trị của di sản đó, phải tuân thủ chặt chẽ những tiêu chuẩn của UNESCO. Những tiêu chuẩn đó sẽ giúp di sản sống mãi với thế hệ tương lai.

PGS. TS. Nguyễn Văn Huy - Trưởng ban Di sản văn hóa phi vật thể - Hội Di sản văn hóa VN: “Nỗi lo hậu vinh danh là nỗi lo có thật”

Nhìn lại quãng đường của các di sản sau khi được vinh danh, một câu hỏi được đặt ra là việc bảo tồn di sản có tốt hơn so với trước khi được công nhận? Có nhà nghiên cứu nói rằng bản thân thấy xấu hổ nếu giới văn hóa cứ loay hoay tập trung vào việc ghi danh tại UNESCO và tỏ ý lo ngại về sự “mất tín nhiệm” trong việc bảo tồn một số di sản đã được UNESCO công nhận. Ý kiến của ông về vấn đề này như thế nào?

Suy nghĩ thường nhật nhất mà chúng ta vẫn thấy sau các cuộc vinh danh là: chúng ta có một giá trị văn hóa tuyệt vời như vậy thật đáng tự hào. Tuy nhiên, nhiều khi vì quá chìm đắm trong vinh danh mà chúng ta quên mất trách nhiệm với di sản. Lại có khi ta tôn vinh di sản một cách quá đáng mà không có được thái độ ứng xử đúng tầm. Nếu chúng ta chỉ nhìn thấy sự tôn vinh mà không thấy được trách nhiệm hoặc thấy được trách nhiệm nhưng phương pháp, tiếp cận để thực hiện trách nhiệm không đúng thì sẽ gây ra hậu quả khôn lường đối với di sản.

Hoặc cũng có khi chúng ta lại vội vàng khai thác di sản, biến di sản thành sản phẩm du lịch bằng việc kéo theo một loạt các dịch vụ không ăn nhập gì với di sản, như thế cũng là giết chết di sản. Câu chuyện người dân đến thăm Vịnh Hạ Long 15 năm sau ngày được công nhận Di sản thế giới đã gặp những cảnh tượng bực mình như cò tàu, tàu dù là một ví dụ. Hay chuyện ứng xử với di sản thế giới theo kiểu tận thu, đã thành di sản nên vé thăm quan phải tăng giá... Đó là chưa kể, nếu bảo tồn không đúng cách cũng là phá hoại di sản. Nhiều người đã xót xa khi thấy nhã nhạc cung đình VN được quảng bá bằng cách mang sang Tây Ban Nha để biểu diễn trên đường phố. Nỗi lo hậu tôn vinh là nỗi lo có thật!

Linh Nga (thực hiện)


Ý kiến của bạn