Di sản, hai từ cao đẹp và đáng tự hào được phong tặng để bày tỏ sự ngưỡng mộ trước những công trình kiến trúc, văn hóa tiêu biểu chứa đựng không biết bao nhiêu những mốc son thăng trầm của lịch sử. Những tưởng được mang trên mình “cái mác” oai vệ như vậy, thì nghiễm nhiên những di sản ấy sẽ được hết sức nâng niu, trọng vọng, tuy nhiên, thực tế không hoàn toàn như vậy. Chuyện những “cụ muỗm” cổ thụ được phong di sản đang chết dần chết mòn hoặc những vụ việc bảo tồn di sản do sự quá chậm trễ, loay hoay, lại vì “quá cẩn trọng” của các cơ quan quản lý đôi khi lại khiến việc phong tặng di sản chỉ là “cái mác”, là danh hão để người ta lợi dụng...
Di sản cũng có “số”
Chùa Một Cột (chùa Diên Hựu) hẳn cũng phải biết tự “rút kinh nghiệm” rất nhiều sau khi một “bạn đồng niên” của mình là chùa Trăm Gian đã thành... trăm mảnh. Ấy là vì chùa Trăm Gian cũng đã kêu, nhưng tiếng kêu chưa đến mức to mà chỉ “kêu” có... 4 năm nên thành thử chưa thấm vào đâu. Chùa “kêu cứu”, xã bảo hỏi huyện, huyện bảo trách nhiệm là của Sở VHTTDL mới đúng thẩm quyền. Những ngành có chức năng quản lý, nghiệp vụ chuyên môn thì cứ “im lặng là vàng”, đến khi chùa hư hại xuống cấp, nhà sư lo lắng cho tính mạng bản thân mình, cho các phật tử, chạy vạy tự sửa. Vị sư trụ trì chuyên việc tụng niệm đứng ra... chủ trì cái cuộc tu bổ theo phong cách dỡ chùa cũ xây chùa mới 100%. Thế là chỉ trong vài hôm chùa Trăm Gian dễ đến cả ngàn tuổi đã “sạch tinh tươm” nhường chỗ cho một ngôi chùa “thơm mùi gỗ” và mái ngói đỏ tươi thay cho vẻ ngoài trầm mặc thiêng liêng. Vị sư trụ trì lại thành “người có trách nhiệm”.

Cũng phải nói là chùa Một Cột đã “may mắn” hơn nhờ vị trí nằm giữa trung tâm văn hóa chính trị của Thủ đô nên “tiếng kêu” được “nghe” rõ và nhanh hơn, chứ không thì chẳng biết thế nào. Tuy nhiên, chùa Một Cột cũng phải “kêu” từ năm 2002, khi mái ngói chùa có biểu hiện sụt lún. Và phải đến năm 2010, chính quyền sở tại mới cử người đến xem xét thực trạng, đưa ra phương án trùng tu. Sau 12 năm, giờ cơ quan chức năng mới tuyên bố đến quý 1, đầu quý 2 năm 2014 mới hoàn thành việc tu bổ.
Cần phải nhắc lại các sự kiện trên là bởi vì, mới đây thôi, cây muỗm thứ 5 trong quần thể 9 cây muỗm ở đền Voi Phục (phường Thụy Khuê, quận Tây Hồ, TP. Hà Nội) đã chết. Đây là những cây muỗm có hơn 900 năm tuổi, là những cây cổ thụ đầu tiên trong cả nước được công nhận Cây di sản Việt Nam vào dịp 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội. Hiện 4 cây còn lại lá vẫn xanh nhưng đã nhiễm bệnh, sắp sửa gục nốt. Điều an ủi duy nhất là Thủ đô đã kịp vinh danh 9 “cụ muỗm” này khi các cụ còn tồn tại.
Ông Nguyễn Văn Tùng, Trưởng Ban quản lý di tích đền Voi Phục cho biết, sau khi 2 cây muỗm đầu tiên chết hồi năm 2012, ông đã gửi đơn kêu cứu khắp nơi, từ phường, quận đến VACNE (Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường). VACNE có giúp mời chuyên gia; chính quyền thì chẳng có phản ứng gì. Đền tự vận động mọi người đóng góp vài chục triệu đồng chữa bệnh cho cây nhưng chẳng biết bệnh gì. Giờ thì phải đợi đến tháng 3/2014, các chuyên gia nước ngoài được mời sang để kiểm tra, lúc đó mới biết được những cây này sống hay chết.
“Báu bở” cho ai?
Cuối năm ngoái, “Tuần văn hóa Du lịch Di sản xanh, nơi gặp gỡ con người và thiên nhiên” chào mừng Ngày Di sản văn hóa Việt Nam lần thứ IX đã diễn ra tưng bừng, thu hút công chúng trong nước cũng như du khách nước ngoài đến tham dự.
Ngoài việc tôn vinh, quảng bá di sản Việt Nam đến với công chúng trong nước và du khách quốc tế còn nhiều hoạt động đều mang ý nghĩa xã hội và tính nhân văn sâu sắc, truyền tải những thông điệp về sự cần thiết tăng cường và nâng cao ý thức trách nhiệm của cộng đồng xã hội đối với việc bảo tồn các di sản thiên nhiên. Tuần văn hóa còn đưa ra thông điệp “Vì một hành tinh xanh, vì môi trường sinh thái hiền hòa, hãy chung tay bảo vệ môi trường, bảo tồn các Di sản thiên nhiên của đất nước, đó cũng là bảo vệ cuộc sống của chúng ta”.
Di sản được ngưỡng vọng đến như vậy, thế nên người ta mới hết sức lấy làm ngạc nhiên khi người dân Đường Lâm - ngôi làng cổ nhất Việt Nam đồng loạt ký vào đơn xin trả Bằng công nhận Di sản quốc gia sau hơn 7 năm giữ danh hiệu.
Nguyên nhân cũng chỉ vì các cơ quan chức năng văn hóa, du lịch đã “cẩn thận” trong công tác bảo tồn đến nỗi, hàng nghìn người dân ở làng cổ phải sống chật hẹp, chui rúc tù túng trong những ngôi nhà vài trăm tuổi dù cho dân làng sinh sôi nảy nở. Là bởi vì họ chẳng thấy “báu bở” gì khi nhận danh hiệu suông, đã chẳng được lợi lộc, lại phải “ôm” thêm nào là ô nhiễm, tắc đường, nào là người sống với chuồng lợn, phải “giải quyết nỗi buồn” với những nhà xí vài trăm tuổi. Trong khi ấy, các cơ quan quản lý văn hóa, du lịch thì bán vé thu bạc tỉ. Cả làng bị “nén” lại để “bảo tồn nguyên vẹn” cái sự “cổ kính” để cho khách thập phương đến nhìn ngó hàng ngày trong khi “cát-xê” cho “nhân vật chính” chẳng có mà chui vào túi ông tổ chức, cái lý của việc trả lại danh hiệu ấy xem ra chẳng vô lý một tí tẹo nào.
Nếu xâu chuỗi một cách có hệ thống, người ta nhận ra rằng, dường như những di sản nào gắn liền với… lợi ích kinh tế thì mới được để tâm bảo vệ, khai thác hơn. Còn một thể loại di sản chỉ là để phong cho có... danh hiệu, để rồi phải khô héo, lụi tàn trong âm thầm.
Nước ta là một đất nước có nền di sản thiên nhiên đa dạng và phong phú, với 12 di sản văn hóa vật thể đã được UNESCO vinh danh, hơn 4 vạn di tích phân bố ở khắp mọi miền đất nước. Công tác bảo tồn gặp nhiều thách thức trước tác động biến đổi khí hậu. Đó là tình trạng chung của mọi quốc gia, nhưng riêng ở ta, di sản còn gánh thêm “thách thức” là sự lơ là, chậm chạp và chỉ “chăm chú” về yếu tố kinh tế của những cơ quan có chức năng quản lý.
Nhất Nam