Di qua mien co

27-02-2010 08:14 | Xã hội
google news

Khi tất cả các biện pháp điều trị đều bất lực trước quả tim người bệnh thì đến lúc ngoại khoa phải lên tiếng. Phẫu thuật tim mạch (PTTM) mang sứ mạng cuối cùng và cũng là hy vọng cuối cùng.

Khi tất cả các biện pháp điều trị đều bất lực trước quả tim người bệnh thì đến lúc ngoại khoa phải lên tiếng. Phẫu thuật tim mạch (PTTM) mang sứ mạng cuối cùng và cũng là hy vọng cuối cùng. Để trở thành một trong những lĩnh vực thành công nhất của y học Việt Nam, PTTM đã phải trải qua những chặng đường thật đặc biệt, mang sắc màu như là cổ tích...

Phép thuật

Dưới bàn tay như có sự màu nhiệm của bác sĩ ngoại khoa tim mạch và sự hỗ trợ tích cực của các thiết bị điều trị hiện đại, những quả tim được hồi sinh, dù cho nó bị thủng, khối u xâm chiếm, đảo gốc động mạch... Nhưng cách đây hơn 50 năm, bước vào phòng mổ không có một thiết bị hỗ trợ nào, chỉ có tính mạng của người bệnh cận kề ranh giới sinh tử, các bác sĩ ngoại khoa Việt Nam vẫn phải tiến hành phẫu thuật. Thành công đó chẳng khác gì có ai đem phép thuật hóa giải trong từng ca mổ.

GS. Đặng Hanh Đệ, Chủ tịch Hội Phẫu thuật tim mạch - lồng ngực Việt Nam đưa tôi ngược thời gian trở về Bệnh viện Việt Đức năm 1958, thời điểm đánh dấu sự khởi đầu của một chuyên ngành ngoại khoa khó nhất: PTTM. Ca phẫu thuật đầu tiên đi vào lịch sử là một ca tách van hai lá bằng phương pháp mổ tim kín do GS. Tôn Thất Tùng thực hiện. Thành công này mở ra cơ hội sống cho rất nhiều người bệnh hẹp van tim nhưng phẫu thuật tim kín không thể giải quyết được những bệnh lý tim mạch phức tạp hơn cần phải sửa chữa, khâu vá. Do vậy 6 năm sau, các bác sĩ Bệnh viện Việt Đức quyết định phẫu thuật tim hở, đó là khi quả tim mở ra cho phép người phẫu thuật viên "chỉnh sửa" được những bệnh lý phức tạp bên trong. Đây là một kỹ thuật rất khó, đòi hỏi phải có máy tim phổi nhân tạo vì lúc này quả tim ngừng đập, phải có hệ thống tuần hoàn ngoài cơ thể để duy trì sự sống. Nhưng biết lấy ở đâu ra thiết bị hiện đại đó khi mà đất nước đang bước vào những ngày tháng gian nan nhất của cuộc chiến tranh vệ quốc? GS. Tôn Thất Tùng quyết định phẫu thuật tim hở nhưng không có máy tim phổi nhân tạo. Có lẽ đây mãi là ý tưởng táo bạo đáng kinh ngạc nhất của ngoại khoa mà chỉ ở Việt Nam mới có thể thực hiện được.

 Để có thể thực hiện được phẫu thuật này, các bác sĩ quyết định ngăn không cho máu về tim, quả tim sẽ co bóp rỗng. Nhưng vấn đề khó nhất là làm sao duy trì được sự sống cho cơ thể vì nếu thiếu máu quá 5 phút, não sẽ chết. Vậy thì mổ như thế nào và mổ cái gì trong khoảng thời gian eo hẹp này? Áp lực bước vào những cuộc mổ đầy căng thẳng ngày đó mãi là kỷ niệm không thể nào quên với GS. Đặng Hanh Đệ. Ngay khi ngăn máu về tim thì bác sĩ gây mê bắt đầu đếm giờ, tất cả mọi thứ chỉ được phép diễn ra trong vòng 5 phút, đòi hỏi người phẫu thuật phải xử trí chính xác 100% từng thao tác và sử dụng hiệu quả từng giây. Thời gian lúc này không chỉ là vàng ngọc mà chính là mạng sống của người bệnh, còn phép thuật trong mỗi ca mổ kỳ lạ ấy chính là khả năng của người bác sĩ và trách nhiệm cứu sống con người.

 Phẫu thuật cho trẻ mắc tim bẩm sinh nhỏ nhất tại Bệnh viện Việt Đức.

Chinh phục

Năm 1965, Trung Quốc tặng cho Bệnh viện Việt Đức một máy tim phổi nhân tạo. Vấn đề đặt ra là sử dụng máy như thế nào trong hoàn cảnh không có ai dạy mình và cũng chưa thấy ai làm bao giờ. GS. Tôn Thất Tùng quyết định phẫu thuật thực nghiệm trên chó, đặt ra yêu cầu chỉ khi nào sống được 5 con mới làm trên người. Sắp xếp mãi cũng có được một phòng mổ thực nghiệm vào sáng chủ nhật hằng tuần nhưng mổ tim phổi nhân tạo phải có máu đổ đầy vào máy. Mổ một con chó thì phải cần máu của 4 con, biết kiếm đâu ra số lượng chó như thế trong hoàn cảnh khó khăn lúc bấy giờ? Bệnh viện huy động cán bộ phòng bảo vệ về quê tìm chó, nhốt vào một chỗ chờ phẫu thuật. GS. Tùng còn liên hệ với  Bộ Công an, bên đó có huấn luyện chó béc giê, con nào không dùng được nữa thì xin về mổ thực nghiệm.

Những ca mổ thực nghiệm ban đầu đều thất bại, vấn đề mấu chốt là phải chăm sóc như thế nào để chó sống sau phẫu thuật. Đặc điểm của loài chó là liếm các vết thương, vì thế sau khi hết thuốc mê chúng giãy giụa và liếm vết thương đến bục chỉ mà chết. Nghĩ mãi, rồi cuối cùng cũng có cách. Họ đặt chó trên một miếng vải, đục thủng 4 lỗ thò 4 chân, rọ mõm lại sau đó mắc hai đầu tấm vải như mắc võng rồi thay nhau truyền dịch, tiêm thuốc sao cho chúng sống được đến ngày hôm sau. Mọi người thở phào khi hoàn thành mục tiêu mổ thực nghiệm, nhưng để chắc chắn có được thành công đầu tiên trên người phải lựa chọn những ca có tiên lượng tốt nhất, thời gian chạy máy ngắn nhất.

Ca phẫu thuật đầu tiên có máy tim phổi nhân tạo là một ca vá lỗ thông liên nhĩ. Bước ra khỏi phòng mổ, mọi người có cảm giác như vừa đặt chân lên đỉnh Olympia. Từ đây PTTM Việt Nam chính thức bước sang một thời kỳ có tính cách mạng, phẫu thuật viên không còn mổ trong tình trạng bị đếm thời gian đến nghẹt thở. Phần thưởng quý giá và vô cùng ý nghĩa mà GS. Đặng Hanh Đệ không thể quên được là ngay sau ca mổ thành công, Bác Hồ đã đến thăm bệnh nhân, động viên và chúc mừng toàn thể bệnh viện.

Kết nối với  thế giới

Giữa lúc chiến tranh chống Mỹ ngày càng ác liệt (năm 1971) thì có một bà người Mỹ đến thăm Bệnh viện Việt Đức. Đó là  một phụ nữ luống tuổi, to béo, bị liệt phải ngồi xe lăn. Không biết bà ấy đã nghĩ gì khi nhìn thấy cơ ngơi phẫu thuật tim của bệnh viện bấy giờ. Chỉ biết rằng ngay sau trận Điện Biên Phủ trên không cuối năm 1972 thì cảng Hải Phòng gửi đến Bệnh viện Việt Đức một bức điện, nói rằng hàng của bệnh viện đã đến cảng, đề nghị xuống nhận. Khi gói quà được mở ra, mọi người lặng người xúc động, đó là quà tặng của "bà béo" người Mỹ- một máy tim phổi nhân tạo có trị giá trên 100.000 USD. Bắt đầu từ đó, PTTM được thực hiện thuận lợi hơn, không còn phải dùng những dụng cụ có tính "liên hợp quốc", phần tim của nước này, phần phổi của nước kia...

Trải qua nhiều thiếu thốn suốt một thời gian dài, PTTM Việt Nam bắt đầu "tăng tốc" với những bước phát triển mạnh mẽ từ những năm 90 của thế kỷ trước nhờ những cơ chế hợp tác rộng mở ở nhiều phương diện. Quan hệ quốc tế trở nên đa dạng trong đào tạo, chuyển giao kỹ thuật... Cùng với sự phát triển của nội khoa, chẩn đoán hình ảnh và gây mê hồi sức, PTTM Việt Nam thực hiện thành công hầu hết các kỹ thuật mổ tim khó nhất trên thế giới, thậm chí mổ thành công cho những trẻ sơ sinh thiếu tháng có cân nặng chưa đến 1,3kg. Nhiều trung tâm tim mạch lớn được xây dựng trên cả nước, trở thành niềm hy vọng cho rất nhiều người bệnh tim mạch hiểm nghèo trong đó có một phần không nhỏ những trẻ mắc bệnh tim bẩm sinh. Năm 2010, Trung tâm Tim mạch của Bệnh viện Trung ương Huế là nơi được lựa chọn thực hiện ca ghép tim đầu tiên tại Việt Nam, khẳng định một tầm vóc mới của ngoại tim mạch Việt Nam.

Hơn một năm qua, cứ 2 tháng một lần, khi buổi sáng bắt đầu ở nước Mỹ thì cũng là lúc ở Việt Nam rực rỡ ánh đèn, các bác sĩ ngoại tim mạch Việt Nam tại hai đầu cầu Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh cùng các đồng nghiệp ở Hàn Quốc, Trung Quốc, Indonesia, Bangladest lại bước vào buổi trao đổi kinh nghiệm trực tuyến với các chuyên gia của Mỹ. Ở đó họ cùng sử dụng  một ngôn ngữ, chung một mối quan tâm là người bệnh, khoa học đã vượt qua khoảng cách về không gian và thời gian. Vào một buổi tối mùa đông lạnh buốt của Hà Nội, có anh bác sĩ trẻ vội vã đến buổi học trực tuyến khi trên trán vẫn lấm tấm mồ hôi sau ca phẫu thuật cấp cứu bóc tách động mạch chủ hơn 6 giờ đồng hồ. Trong phòng học trực tuyến, nhìn GS. Đặng Hanh Đệ nghiêng nghiêng mái đầu bạc trắng bên cạnh mái tóc màu muối tiêu của PGS.TS. Lê Ngọc Thành (Trưởng khoa PTTM - lồng ngực - Bệnh viện Việt Đức) và những mái tóc xanh của các bác sĩ trẻ, tôi nhận ra rằng khoa học cũng là một dòng chảy bất tận từ thế hệ này sang thế hệ kia. Và không chỉ tình yêu giữa con người với con người không có tuổi mà điều đó cũng đúng với tình yêu dành cho khoa học.

Bài và ảnh: Lê Hảo


Ý kiến của bạn