Nằm ở vị trí trung tâm Bắc Bộ, với gần 200 doanh nghiệp tham gia thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản, tuy nhiên công tác khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An còn nhiều bất cập, việc quản lý tài nguyên khoáng sản bị buông lỏng dẫn đến nhiều tổ chức, cá nhân vi phạm Luật khoáng sản. Không những thế, tại các điểm tập trung nhiều doanh nghiệp khai thác khoáng sản như: huyện Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Tương Dương... trở thành các điểm nóng về mất an ninh trật tự, mất an toàn lao động và ô nhiễm môi trường. Trong số báo này và các số tiếp theo, chúng tôi phản ánh cụ thể những bất cập từ việc cấp phép khai thác đến những sai phạm trong việc quản lý hoạt động sau cấp phép khoáng sản tại Nghệ An.
Khai thác khoáng sản tại Quỳ Hợp, Nghệ An. |
Quy định dễ tạo cơ chế xin cho
Là tỉnh có nhiều điểm thăm dò khai thác, chế biến thủy sản, mặc dù UBND tỉnh đã có nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện các quy định của Nhà nước về quản lý, bảo về tài nguyên khoáng sản và quản lý hoạt động khoáng sản tại địa phương. Tuy nhiên, trong quá trình ban hành các văn bản cấp phép khai thác khoáng sản, nhiều văn bản ban hành có nội dung trái với quy định của Luật khoáng sản, không phù hợp thực tiễn. Tại Công văn số 24/UB-CN ngày 3/1/2002 của UBND tỉnh Nghệ An quy định, cấp phép lần đầu không quá 5 năm, một lần gia hạn không quá 3 năm là trái Điểm 3, Điều 31 Luật khoáng sản. Với thời hạn cấp phép quá ngắn, không phù hợp với thực tiễn dẫn tới việc tổ chức khai thác của các doanh nghiệp thường mang tính chất tạm bợ, thiếu ổn định, ít quan tâm đến việc xây dựng cơ bản mỏ, khai thác không có kế hoạch, chỉ tập trung khai thác tài nguyên theo kiểu "dễ làm, khó bỏ" dẫn tới lãng phí tài nguyên. Tại Văn bản số 337/KH-UBND.ĐC ngày 31/10/2006 và Chỉ thị số 05/2007/CT-UBND ngày 24/1/2007 của UBND tỉnh đều quy định: "... tất cả các trường hợp xin cấp phép hoạt động khoáng sản phải có ý kiến đồng ý của UBND tỉnh thì Sở Tài nguyên và Môi trường mới được tiếp nhận hồ sơ" là không phù hợp tạo ra cơ chế độc quyền, cơ chế xin cho, gây phiền hà cho doanh nghiệp và dễ phát sinh tiêu cực. Vẫn theo Văn bản 337/KH-UBND.ĐC ngày 31/10/2006 của UBND tỉnh giao Sở Tài nguyên và Môi trường xây dựng quy trình thủ tục cấp giấy phép hoạt động khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp tỉnh trình UBND tỉnh ban hành trong tháng 11/2006 nhưng cho đến nay đã hơn 3 năm, UBND tỉnh vẫn chưa ban hành được quy trình, thủ tục cấp giấy phép hoạt động khoáng sản.
Thủ tục rườm rà, nhiều cửa...
Hiện để được khai thác khoáng sản, theo tìm hiểu của chúng tôi, một doanh nghiệp khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh phải thực hiện quá nhiều thủ tục, nhiều văn bản (riêng UBND tỉnh phải ban hành 5 công văn: công văn giao việc cho các ngành liên quan; công văn cho phép doanh nghiệp lập hồ sơ; quyết định cấp phép khai thác khoáng sản; quyết định cho thuê đất, quyết định cho phép sử dụng vật liệu nổ công nghiệp). Không chỉ dừng ở đó, doanh nghiệp phải làm việc với rất nhiều ngành có liên quan như tài nguyên và môi trường, công thương, xây dựng, văn hóa, giao thông, nông nghiệp, quân đội, UBND các cấp để xin ý kiến về quy hoạch, tạm thời cấm thăm dò, khai thác khoáng sản... Thời gian làm thủ tục xin cấp một giấy phép khai thác khoáng sản của một doanh nghiệp phải mất từ 6 tháng đến một năm. Trường hợp điển hình là Công ty TNHH Hồ Hoàn Cầu (Quỳnh Văn, Quỳnh Lưu) xin khai thác đá xây dựng, sau hơn một năm mới được cấp giấy phép. Công ty cổ phần khoáng sản Việt Lào xin khai thác quặng vàng tại xã Yên Hòa, huyện Tương Dương, gần 3 năm mới được cấp giấy phép. Cũng do thời gian làm thủ tục xin cấp phép quá dài dẫn tới trước khi trình UBND tỉnh cấp phép, Sở Tài nguyên và Môi trường phải yêu cầu doanh nghiệp viết lại đơn, dẫn đến trên hồ sơ phản ánh không chính xác thời gian xin cấp phép của các doanh nghiệp. Trong khi đó, một số thủ tục thực hiện trong cùng một cơ quan có những nội dung giống nhau có thể lồng ghép, rút gọn như thủ tục xin cấp phép khai thác khoáng sản, thủ tục xin thuê đất và thủ tục xin cấp phép sử dụng vật liệu nổ công nghiệp...
Cũng liên quan đến việc cấp phép và khai thác khoáng sản, từ tháng 1/2003 - 5/2007, UBND tỉnh Nghệ An đã cấp 19 giấy phép khai thác tận thu khoáng sản không đúng vị trí bàn giao tận thu, trong đó có 8 điểm khai thác mỏ đá trắng và 11 điểm khai thác mỏ thiếc, thậm chí có những trường hợp được cấp phép với diện tích lớn hơn diện tích được bàn giao (Công ty TNHH Long Vũ), cấp phép ra ngoài khu vực được bàn giao tận thu (Công ty khoáng sản Nghệ An).
Việc UBND tỉnh Nghệ An có quyết định cấp phép không đúng vị trí được bàn giao tận thu là vi phạm Điều 66 và 67 Nghị định số 76/2000/NĐ-CP ngày 15/12/2000 của Chính phủ quy định "Không cấp phép khai thác tận thu khoáng sản đối với những điểm chưa được Bộ Công nghiệp phê duyệt".
Ngọc Cường