“Đệ nhất” trưởng bản giữa đại ngàn

Thời sự
Năm 1995, khi bản A Bung, xã Nhâm lần đầu tiên có tên trên bản đồ địa chính của UBND huyện A Lưới, Thừa Thiên - Huế. Bà con cả bản, bụng dạ ai cũng vui như mở hội.

 Trưởng bản Quỳnh Nhất.
Năm 1995, khi bản A Bung, xã Nhâm lần đầu tiên có tên trên bản đồ địa chính của UBND huyện A Lưới, Thừa Thiên - Huế. Bà con cả bản, bụng dạ ai cũng vui như mở hội. Từ đó, bên bếp lửa hồng ấm áp hàng đêm, đồng bào Tà Ôi nơi miền sơn cước vẫn kể mãi "bản hùng ca" về trưởng bản Quỳnh Nhất (sinh năm 1950), để như nhắn nhủ con cháu mình mãi nhớ ghi...

Nghe bà con các dân tộc thiểu số Tà Ôi, Pa Kô, Cơ Tu... ở xã Nhâm vẫn thường hay đồn đại với vẻ thán phục rằng: bản A Bung đã thoát khỏi du canh du cư, nghèo đói, người có bệnh đã biết tìm bác sỹ không để cho con "ma rừng, ma núi" nó bắt đi nữa... Tất cả nhờ công lao của già Nhất, bởi cái bụng của già thương và lo cho cuộc sống bà con.

Từ sáng sớm ở TP. Huế, vượt 80km băng rừng Trường Sơn lên bản A Bung, trời đã xế trưa. Chúng tôi lần tìm hỏi một bà cụ về trưởng bản Quỳnh Nhất, một nụ cười móm mém trả lời: "Tìm già Nhất ban ngày là khó lắm! Cái giờ ni, không lên rẫy thì già cũng đi từng nhà để bày cho bà con làm kinh tế hay vận động con em đến lớp rồi". Đúng như lời bà cụ, khi nửa mặt trời đã nấp xuống sau đại ngàn, chúng tôi mới được gặp già...

"Chàng khùng" khai hoang "tử địa"

Trước năm 1973, khi huyện A Lưới (TT-Huế) chưa được giải phóng, đồng bào Tà Ôi cư trú sát biên giới Việt - Lào vốn có truyền thống du canh du cư trên những ngọn núi cao.

Già Nhất nhớ lại quá khứ mà kể: Thời ấy, bà con chỉ biết chờ mùa mưa đến để làm mỗi một vụ vãi lúa, nuôi được vài con bò, con dê chăn trong rừng thì suốt ngày nơm nớp lo thú rừng ăn thịt. Cảnh sống chia nhau từng củ sắn, sớt từng hạt muối làm già trăn trở. "Chẳng lẽ cái khổ nó cứ ở đời vậy à? Sống như thế này, đời con cháu mình rồi cũng khổ như mình thôi". Sau nhiều đêm không ngủ được, già Nhất lúc đó là một chàng trai trẻ lực lưỡng quyết định: "Phải đi tìm một vùng đất ổn định cuộc sống để giữ chân bà con, để không phải du canh du cư nữa".

Mảnh đất A Ló là một trong những khu vực ở huyện A Lưới, vốn được biết đến bởi lượng bom đạn chưa nổ còn sót lại nhiều vô kể và là vùng bị nhiễm nặng chất độc da cam - dioxin trong chiến tranh. Nơi đây được mệnh danh là vùng "tử địa", "rốn da cam". Chàng trai trẻ Quỳnh Nhất quyết định chọn A Ló để khai hoang lập địa, gây dựng cuộc sống mới cho bà con.

Những ngày đầu giữa chiến địa xưa thiếu thốn trăm bề. Hết đạn bom là sự rình rập của "thần chết" dioxin còn ngấm trong đất. Vật lộn với muôn vàn khó khăn, nguy hiểm trong một thời gian dài, "thành quả" đầu tiên chỉ là một ruộng khai lang mọc lên giữa "tử địa".

Buổi đầu sơ khai về vùng đất mới, cái lán nhỏ bên con suối Hê Lơ là ngôi nhà chung của đại gia đình Tà Ôi giữa bạt ngàn hoang vu A Ló. Cả gia đình già Nhất lúc ấy phải chen chúc sinh hoạt trong một góc lán nhỏ cùng bà con. Bản A Bung phôi thai từ đó...

Đến năm 1995, khi trong bản đồ địa chính huyện và tỉnh đã xuất hiện tên bản A Bung, bụng dạ bà con vui lắm. Đó chính là nhờ công lớn của trưởng bản Quỳnh Nhất sau bao tháng năm đánh cược mạng sống của mình giữa vùng "tử địa" và đấu tranh với biết bao tư tưởng lạc hậu, cổ hũ.

Ngọn đuốc sáng xã Nhâm

Làm cho đồng bào Tà Ôi ở biên giới Việt Lào ưng cái bụng theo mình đã muôn vàn khó, việc giữ họ bám trụ lại với A Bung đối với trưởng bản Quỳnh Nhất còn vất vả gấp bội phần. Bởi con "ma đói, ma nghèo" vẫn luẩn quẩn, con "ma dốt" vẫn còn nằm trong trí óc bà con. Già Nhất tự nhủ: Muốn bản mình không còn "con ma" nghèo đói, bệnh tật, u mê nữa. Mình phải đi vận động, thuyết phục bằng điều hay lẽ phải. Để bà con cho con em đến lớp, người có bệnh phải đưa lên trạm y tế xã để tìm bác sĩ khám. Phải bày cho bà con đào giếng để uống nước sạch, bày cách mở đường giao thông. Có như vậy ô tô mới vào bản, mới bán được nông sản".

Người Tà Ôi có sức khỏe thì đào giếng, trẻ nhỏ đã biết đến trường, những bàn tay phá đá mở đường... Rồi chuyến xe đầu tiên chở đầy nông sản rời bản trong niềm mừng vui khôn xiết của bà con. Những củ sắn, củ khoai, buồng chuối đã về xuôi...

Giữa năm 1997, khi huyện A Lưới có chính sách đầu tư cho xã Nhâm trồng cây cà phê. Nhưng chẳng ai dám trồng vì sợ nếu bỏ rẫy cũ thì cái ăn không có nữa. Chỉ một mình già Nhất trồng 200 gốc thí điểm xen canh cây sắn. Sau hai năm chăm bón, cà phê mới cho thu hoạch, lãi gần 1 triệu đồng. Đối với bà con A Bung và kể cả già Nhất, chưa bao giờ già cầm trong tay số tiền lớn như vậy. Nhờ cây cà phê hợp thổ nhưỡng, thêm già Nhất đi tuyên truyền. Chẳng bao lâu sau, cả bản quyết định... trồng cà phê. Già bắt tay chỉ việc cho từng hộ, bày kỹ thuật từng li từng tí.

Chỉ vài năm sau, cả vùng "tử địa" hoang vu được phủ xanh bằng cây cà phê. Anh Quỳnh Nhi, một trai bản nói như khoe: "Cả bản nay không sợ nghèo nữa. Nhiều người có cái điện thoại để liên lạc, có xe máy. Ai cũng có ti vi...".

Ông Hồ Viên Pưa, Chủ tịch UBND xã Nhâm cho biết: Già Nhất người tiên phong đưa cây cà phê lên A Lưới. Ban đầu, toàn huyện chỉ có khoảng 30ha trồng tại xã Nhâm, đến nay con số này đã tăng lên hàng nghìn, phân bố chủ yếu ở khắp các xã và đã hình thành một nông trường sản xuất, thu mua, chế biến cà phê". 

Tình hình kinh tế - chính trị nơi vùng biên này trong những năm qua luôn được ổn định. Trưởng bản Quỳnh Nhất như một nhịp cầu nối giữa đồng bào Tà Ôi và sự lãnh đạo của Đảng, của Nhà nước. Già thật xứng đáng với cương vị là một đại biểu HĐND của huyện.

Phóng sự của TRẦN NGUYÊN PHONG


Ý kiến của bạn