Trạng thái “cương” phụ thuộc vào cả yếu tố tâm lý và sinh lý. Vì vậy nếu tự ý dùng độc vị viagra để điều trị rối loạn cương có lúc không phù hợp, kém hiệu quả và có thể gây hại.
Tín hiệu điều khiển trạng thái cương truyền từ vùng hạ đồi đến dương vật. Thần kinh đối giao cảm (tiết ra acetylcholin) phối hợp với tế bào nội mô của xoang tĩnh mạch (tiết ra prostaglandin-F2a, endothelin...) tạo phản ứng sinh oxit nitric. Oxit nitric sinh ra GMP (guanosin monophosphat - vòng nội bào gây giãn cơ trơn tiểu động mạch thể hang) làm cho máu tràn vào đó, đồng thời chẹn toàn bộ hệ thống tĩnh mạch nằm dưới bao trắng, không cho máu thoát đi, máu ứ lại tại dương vật, gây trạng thái cương. Trục trặc khâu nào cũng có thể gây rối loạn cương (RLC). Mỗi loại thuốc chỉ tác dụng trên một khâu của quá trình này.
Ức chế PDE-5 không phải toàn năng
Enzym PDE-5 (phosphodiesterase-5) thủy phân GMP làm mất trạng thái cương. Ức chế PDE-5 bao gồm sildenafil (viagra), tanalafil (cinalis), vardenafil (levitra) tạo ra oxit nitric, làm tăng GMP sẽ trả lại trạng thái cương. Tuy tạo ra cuộc cách mạng trong trị liệu, vẫn có khoảng 30% người RLC dùng ức chế PDE-5 không có kết quả và sau một năm có thêm 30% người tự ý ngừng thuốc không rõ lý do. Thất bại này có thể do:
Chỉ định chưa thỏa đáng: Ức chế PDE-5 không cho hiệu quả trong RLC do rối loạn chức năng nội mô và xơ vữa mạch máu dương vật diễn biến xấu, do nhược năng tuyến sinh dục, do yếu tố tâm lý hoặc kèm các bệnh mạn tính (tim mạch, đái tháo đường). Người bệnh khai không rõ tiền sử bệnh tật của mình dẫn đến chỉ định sai thuốc.
Dùng chưa đúng cách: Khởi đầu hiệu lực của sildenafil là 40 phút, tadalafil là 30 phút và vardenafil 15 phút. Thời gian đạt nồng độ tối đa của sildenafil là 60 phút, vardenafil là 40 và tadalafil là 120 phút. Thức ăn, rượu làm chậm tốc độ hấp thu của thuốc. Dùng không đúng thời điểm, kèm quá nhiều thức ăn, rượu, kết quả của thuốc sẽ bị hạn chế. Phần lớn cho kết quả tốt sau 2 liều, nhưng có người phải sau 6 - 8 liều. Thiếu kiên nhẫn dẫn đến đánh giá và tự ý ngừng thuốc không đúng. Liều khởi đầu của sildenafil là 50mg của tadalafil, vardenafil là 10mg, đạt hiệu quả tối ưu khi tăng lên gấp đôi nhưng liều cao lại dễ gây tác dụng phụ. Không chọn đúng liều tối ưu sẽ kém hiệu quả, đôi khi lại phải ngừng thuốc do tác dụng phụ. Sau 2 năm có khoảng 17 % người dùng bị nhờn thuốc.
Vai trò quan trọng của các thuốc khác
Testosteron: Nhược năng sinh dục làm nồng độ testosteron máu thấp (dưới 200 nanogam/dL). Trường hợp RLC này, dùng testosterone cho hiệu quả 52% (đường tiêm, uống) và 80% (dán ngoài da). Những trường hợp RLC này, dùng ức chế PDE-5 không cho hiệu quả, song dùng testosteron cho hiệu quả tốt. Phối hợp với sildenafil thì testosteron có giá trị “khởi động”, làm cho sidenafil dùng sau đó cho hiệu quả tốt hơn.
Alprostadil: Là prostaglandin-E tổng hợp, thông qua enzym aldehyt cyclase alprostadil làm tăng AMP (adenosin monophosphat - vòng), giảm nồng độ calci nội bào dẫn đến giãn cơ trơn động mạch, cơ trơn thể hang. AMP - vòng cũng có thể phục hồi lại quá trình tác động của oxit nitric lên GMP vòng- nội bào làm tăng nồng độ chất này, đưa đến đến giãn cơ trơn ở tiểu động mạch thể hang, dồn máu tại đó, gây cương. Dùng đơn độc alprostadil tiêm ở thể hang cho kết quả 70%. Trong trường hợp alprostadil tiêm ở thể hang cho kết quả kém, dùng phối hợp alprostadil với papaverin phetolamin cho hiệu quả khoảng 90%. Với những người RLC dùng sildenafil hay alprostadil đơn độc không cho hiệu quả thì dùng sildenafil uống phối hợp với alprotadil tiêm thể hang cho kết quả 48% và phối hợp với alprostadil đặt niệu đạo cho kết quả 92%-100%.
Papaverin: Là ức chế PDE (enzym phosphodiesterase) không chọn lọc. Được đánh giá không bằng alprostadil. Dùng papaverin có hiệu quả 80% trong RLC do tâm lý hay do thần kinh song lại rất ít hiệu quả trong RLC do mạch máu.
Apomorphin: Là chất đồng vận với dopamin đang dùng thử nghiệm, dạng đặt dưới lưỡi có hiệu quả kém thuốc ức chế PDE nhưng nhanh, ít tác dụng phụ. Dùng phối hợp với PDE cho hiệu quả cao hơn.
Melanotan II: Là peptid hướng melanin, tiêm dưới da có hiệu quả với khoảng 63% người bị RLC do nguyên nhân thực thể.
Tác dụng không mong muốn
Alprostadil, gây đau, xơ hóa dương vật, cương cứng kéo dài (17 - 34%), riêng dạng đặt còn gây nóng rát niệu đạo (12%).
Papaverin gây hạ huyết áp động mạch, độc cho gan và cũng như alprostadil gây cương cứng dương vật kéo dài (35%), xơ hóa thể hang (33%).
Testosteron: Ở liều điều trị thường gặp là mụn trứng cá, đa hồng cầu có thể gây vú to, dùng liều cao, kéo dài có thể làm xuất hiện hoặc gây kịch phát triệu chứng đường tiểu dưới (do tăng sản lành tính tuyến tiền liệt), ung thư tuyến tiền liệt, giảm cholesterol tốt, tăng nồng độ enzym gan, giảm khả năng sinh sản. Khi dùng, cần định kỳ mỗi 3 tháng kiểm tra nồng độ testosteron.
Ức chế PDE-5: Gây nhức đầu (14%), nóng bừng mặt (4- 14%), rối loạn tiêu hóa (3,7 - 10%), viêm mũi (2,6 - 9,2%), đau lưng (6% chỉ ở tadalafil). Nghiêm trọng hơn là gây giãn mạch, hạ huyết áp động mạch đột ngột, làm thiếu máu cục bộ cơ; tim nhanh phản xạ, rung nhĩ. Tai biến tim mạch có thể dẫn đến tử vong. Tuy nhiên, các trường hợp này thường xảy ra ở người có tiền sử về bệnh tim mạch, đái tháo đường, cholesterol cao, phì đại tuyến tiền liệt nhất là dùng ức chế PDE-5 trong khi đang dùng các thuốc chữa bệnh các bệnh này (như thuốc tim mạch glyceryl trinitrat, thuốc chữa tuyến tiền liệt cardura, formax). Gần đây còn thấy có khoảng 6% người dùng sildenafil với liều duy nhất 100mg, gặp các thay đổi nhỏ thoáng qua về chức năng ngoài và trong võng mạc có thể có thể làm đảo ngược trong vòng 24 giờ, tuy nhiên nếu xử lý chậm có thể bị mù.
Ức chế PDE-5 có hiệu lực mạnh, dùng uống thuận lợi, được coi là thuốc đầu tay. Tuy vậy, mỗi loại thuốc thường có hiệu quả cao trên từng nguyên nhân RLC. Chọn đúng thuốc cho từng trường hợp, dùng đúng cách là yếu tố quyết định hiệu quả. Hầu hết thuốc đều có tác dụng phụ, chỉ khi dùng tự ý, quá liều hoặc với các thuốc có tương tác bất lợi mới bị tai biến nghiêm trọng. Do vậy, thuốc RLC phải do thầy thuốc chuyên khoa chỉ định, theo dõi, không nên tự ý dùng, càng không nên lạm dụng ngoài mục đích chữa bệnh.
DS.Bùi Văn Uy