(SKDS) - Qua 3 năm triển khai thực hiện, mặc dù Dự án phòng chống đái tháo đường quốc gia được WHO và Bộ Y tế đánh giá cao về những thành tựu đạt được. Nhưng còn đó những bất cập và khó khăn của những người thực hiện dự án. Dưới đây là chia sẻ của những người trong cuộc.
TS.Nguyễn Vinh Quang – PGĐ BV Nội tiết TW: Cần bổ sung nhân lực cho chuyên ngành ÐTÐ
Về đội ngũ cán bộ thực hiện dự án còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng. Ở trung ương, đa số cán bộ là kiêm nhiệm, còn ở địa phương, đặc biệt là tuyến huyện, tuyến xã thì hầu hết cán bộ còn thiếu kinh nghiệm triển khai dự án phòng chống ĐTĐ. Tại các tuyến huyện, xã việc triển khai công tác khám, tư vấn, sàng lọc phát hiện sớm bệnh ĐTĐ và điều trị, quản lý BN ĐTĐ, người tiền ĐTĐ còn là một vấn đề nan giải do nguồn lực tại nơi này còn thiếu và yếu. Do vậy nâng cao năng lực cho cán bộ cơ sở là một đòi hỏi cấp bách của dự án, nhưng chúng tôi vẫn chưa triển khai được đầy đủ mục tiêu này do còn một số vướng mắc, khó khăn khi thực hiện.
![]() |
Bệnh ĐTĐ typ 2 hoàn toàn có thể dự phòng được, nếu những người có yếu tố nguy cơ cao và người bệnh được quản lý tốt ngay từ tuyến y tế cơ sở. Tôi hy vọng trong năm tới sẽ triển khai hiệu quả kế hoạch tập huấn nhằm nâng cao trình độ cho cán bộ thực hiện dự án ở tuyến y tế cơ sở. Điều này cũng phần nào giúp ích cho người dân biết cách dự phòng ĐTĐ và nếu chẳng may mắc bệnh thì y tế tuyến cơ sở sẽ là nơi điều trị, quản lý người bệnh giúp cho người bệnh đỡ phải tốn kém chi phí đi lại do phải đi khám bệnh thường xuyên, liên tục suốt thời gian còn lại của cuộc đời người bệnh...
Hiện nay, chúng ta cũng chưa đào tạo đủ các bác sĩ cho chuyên ngành này. Ngoài trường ĐH Y – Dược TP.HCM, còn các Trường đại học Y - Dược trên toàn quốc đều không có bộ môn chuyên ngành đào tạo riêng về bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hoá. Nguồn lực bổ sung cho chuyên ngành nội tiết - ĐTĐ chủ yếu là các bác sĩ chuyên khoa nội chung, nhi khoa... vì vậy kiến thức chuyên ngành nhiều hạn chế. Do đó, trong thời gian tới, chúng tôi hy vọng sẽ triển khai được các lớp đào tạo hoặc phối hợp đào tạo sau đại học cho bác sĩ ở các tuyến với mong muốn bổ sung nguồn lực để làm công tác về nội tiết nói chung và ĐTĐ nói riêng.
BS CKI. Nguyễn Chí Hành – GĐ TTYTDP tỉnh Bắc Ninh: Tăng cường kinh phí và cần đội ngũ cán bộ chuyên trách
Qua sàng lọc thì Bắc Ninh có khoảng 7,5% dân số mắc bệnh ĐTĐ. Như vậy có thể nói Bắc Ninh là một trong những tỉnh/thành có tỷ lệ người mắc bệnh ĐTĐ và tiền ĐTĐ cao nhất nước.
Với tỉ lệ người mắc ĐTĐ cao như vậy, chúng tôi đang rất thiếu nhân lực cho chuyên ngành này cả về số lượng và chất lượng. Do đó khi triển khai dự án, gặp không ít khó khăn, vướng mắc: Tại bệnh viện đa khoa làm công tác điều trị chưa thực hiện tốt QĐ 3280/QĐ-BYT ngày 9/9/2011 về hướng dẫn và chẩn đoán bệnh ĐTĐ. Tại các TTYT huyện/ thị xã/ thành phố thiếu BS chuyên ngành làm công tác quản lý và sàng lọc phát hiện bệnh nhân ĐTĐ sớm tại cộng đồng.
Ngoài khó khăn về nhân lực, thì kinh phí hạn hẹp cũng khiến cho việc triển khai dự án ĐTĐ gặp nhiều khó khăn. Trang thiết bị phục vụ công tác quản lý, khám sàng lọc ĐTĐ tại cộng đồng còn thiếu nhiều. Kinh phí của Dự án phòng chống ĐTĐ (DAPCĐTĐ) hằng năm cấp về Bắc Ninh chỉ đủ cho khám, phát hiện sớm ĐTĐ cho khoảng 5.000 trường hợp, trong khi nhu cầu thực tế lớn hơn gấp nhiều lần. Không có kinh phí chi cho cán bộ chuyên trách ở các tuyến nên khó động viên được cán bộ làm tốt công việc PCĐTĐ.
Để triển khai dự án tại Bắc Ninh nói riêng và các địa phương khác nói chung có hiệu quả, tôi xin đưa ra một số ý kiến:
- Xây dựng mạng lưới cán bộ PCĐTĐ từ TW xuống tận xã, các cán bộ phải được tập huấn thường xuyên. Tại tuyến tỉnh, tuyến huyện, cán bộ chuyên trách phải là BS chuyên khoa;
- Cần có sự ủng hộ cao của cấp trên, đặc biệt là Sở Y tế về chủ trương, đường lối, kinh phí… trong công tác PC ĐTĐ;
- Làm tốt công tác truyền thông PCĐTĐ;
- Hệ thống trang thiết bị máy móc phục vụ công tác PCĐTĐ phải được trang bị đầy đủ;
- Tăng kinh phí cho công tác PCĐTĐ vì kinh phí cấp cho các hoạt động của chương trình quá ít trong khi bệnh ĐTĐ có xu hướng gia tăng ngày càng nhiều, tỷ lệ người mắc bệnh ĐTĐ chưa được phát hiện ngoài cộng đồng còn rất cao;
- Cần có kinh phí dành cho mua sắm trang thiết bị phục vụ công tác PCĐTĐ; Có kinh phí hỗ trợ cho cán bộ chuyên trách PCĐTĐ.
BSCKII.Đỗ Thị Ngọc Diệp – Giám đốc TTDD TP.HCM: Dự phòng ÐTÐ cần kết hợp nhiều yếu tố
Để phòng ngừa và điều trị bệnh ĐTĐ thì cần kết hợp nhiều yếu tố, trong đó bao gồm thay đổi hành vi lối sống; tập luyện thể dục; chế độ dinh dưỡng; điều trị bằng thuốc…
Chính vì lẽ đó mà chúng tôi đã tổ chức phòng khám, điều trị BNĐTĐ kết hợp tư vấn về chế độ dinh dưỡng và xây dựng thực đơn cho từng bệnh nhân do bác sĩ chuyên khoa và nhân viên tiết chế thực hiện. BS khám và ra y lệnh thuốc, y lệnh về chế độ ăn, tư vấn nguyên tắc về dinh dưỡng. Nhân viên được đào tạo về tiết chế tư vấn và xây dựng thực đơn cho BN. BN được hẹn tái khám định kỳ. Chúng tôi còn tổ chức các buổi thực hành chế biến các món ăn cho BN có kỹ năng đúng. CLB bệnh nhân ĐTĐ được Trung tâm dinh dưỡng tổ chức là nơi BN được hướng dẫn về cách thức tính khẩu phần, chọn lựa thực phẩm, xây dựng thực đơn, trao đổi kinh nghiệm và kiến thức về dinh dưỡng, vận động, thử đường huyết, theo dõi bệnh, cách sử dụng thuốc…
Một điều cũng đặc biệt quan trọng đóng góp cho công tác dự phòng bệnh ĐTĐ hiệu quả đó là truyền thông. Giáo dục cộng đồng qua truyền thông như báo, đài, câu lạc bộ bệnh nhân sinh hoạt định kỳ… là biện pháp hiệu quả nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng, từ đó họ sẽ có ý thức tự thay đổi hành vi lối sống và tự nguyện thực hiện chế độ dinh dưỡng, tập luyện cũng như điều trị bệnh.
Dù mỗi địa phương có điều kiện để dự án PCĐTĐ là khác nhau. Thế mạnh của chúng tôi là đội ngũ cán bộ y tế rất tích cực tham gia các hoạt động của dự án và họ có chuyên môn sâu về dinh dưỡng trong bệnh ĐTĐ. Chúng tôi cũng nhận được sự ủng hộ từ phía Sở Y tế và có sự phối hợp với các ban ngành khác khá tốt nên cũng có nhiều thuận lợi khi triển khai chương trình.
Dù vậy, những khó khăn chung mà những người triển khai dự án gặp phải là nhân lực còn rất thiếu, nhất là cán bộ phụ trách chương trình tại tuyến cơ sở. Định mức chi của chương trình còn rất thấp, chưa cân xứng với tình hình thực tế. Kinh phí hỗ trợ cho cộng tác viên tại địa phương rất hạn chế nên cộng tác viên làm việc không bền lâu. Kinh phí hàng năm chuyển về trễ ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện hoạt động của chương trình. Ngoài ra, để thực hiện tốt thì chương trình phải phối hợp nhiều ban ngành, do đó đòi hỏi nhiều nỗ lực của đơn vị thường trực.
Trọng Nhân
