Đặt stent graft cứu bệnh nhân phình động mạch chủ ngực khổng lồ đến 89mm

Y tế
SKĐS - Bệnh nhân 63 tuổi mang khối phình động mạch chủ ngực 89mm được can thiệp nội mạch thành công, vượt qua thách thức giải phẫu phức tạp...

Bệnh nhân nhập Viện Tim mạch Việt Nam, Bệnh viện Bạch Mai trong tình trạng nguy cơ cao do phình động mạch chủ ngực đoạn xuống. Khối phình có đường kính tối đa lên tới 89mm, tiềm ẩn nguy cơ nứt, vỡ động mạch chủ và tử vong đột ngột.

TS.BS Phạm Minh Tuấn, người trực tiếp thực hiện ca can thiệp, cho biết thách thức lớn nhất không chỉ nằm ở kích thước khối phình mà còn ở đặc điểm giải phẫu của động mạch chủ.

Đặt stent graft cứu bệnh nhân phình động mạch chủ ngực khổng lồ đến 89mm- Ảnh 1.

Hình ảnh phình lớn động mạch chủ ngực, doạ vỡ, vôi hóa, xoắn vặn và gập góc. Ảnh: BVCC

"Đoạn mạch chủ bị vôi hóa, xoắn vặn và gập góc phức tạp. Để đưa hệ thống ống thông cỡ lớn di chuyển qua các đoạn gấp khúc mà không làm tổn thương thành mạch, không làm bong các mảng xơ vữa, đồng thời triển khai stent graft chính xác tại vị trí đích, đòi hỏi ê-kíp phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng và thao tác chính xác", TS.BS Phạm Minh Tuấn chia sẻ.

Theo các bác sĩ, lựa chọn kích thước và vị trí đặt stent graft là một trong những khâu quyết định thành công của can thiệp TEVAR.

Trước ca can thiệp, bệnh nhân được hội chẩn bởi đội ngũ đa chuyên khoa (Heart Team) để đánh giá toàn diện nguy cơ và lựa chọn chiến lược điều trị.

ThS.BSNT Trần Ngọc Cầm cho biết, với tình trạng của người bệnh, phẫu thuật mở truyền thống tiềm ẩn nhiều nguy cơ, trong khi can thiệp nội mạch dù có những thách thức về giải phẫu nhưng là phương án phù hợp hơn.

"Nếu phẫu thuật mở, người bệnh phải trải qua đường mổ lớn, có thể phải sử dụng máy tuần hoàn ngoài cơ thể và thời gian hồi sức kéo dài. Trong khi đó, với phương pháp TEVAR, ê-kíp có thể tiếp cận qua đường mạch máu ở vùng bẹn. Đây là phương pháp xâm lấn tối thiểu, giúp giảm đau, hạn chế mất máu, giảm nguy cơ nhiễm trùng và tạo điều kiện để người bệnh hồi phục nhanh hơn", ThS.BSNT Trần Ngọc Cầm phân tích.

Sau khi thống nhất chiến lược điều trị, ê-kíp Viện Tim mạch Việt Nam gồm TS.BS Phạm Minh Tuấn, ThS.BSNT Trần Ngọc Cầm và ThS.BSNT Lê Ngọc Thiện đã tiến hành can thiệp.

Với sự phối hợp chính xác trong từng bước, ê-kíp đã triển khai stent graft thành công, loại trừ dòng máu khỏi túi phình, qua đó xử lý tổn thương và giảm nguy cơ vỡ động mạch chủ cho người bệnh.

Đặt stent graft cứu bệnh nhân phình động mạch chủ ngực khổng lồ đến 89mm- Ảnh 2.

Ê-kíp thực hiện can thiệp đặt stent graft cho người bệnh phình lớn động mạch chủ ngực phức tạp. Ảnh: BVCC

Đánh giá về ý nghĩa chuyên môn của ca bệnh, PGS.TS.BS Nguyễn Thị Thu Hoài, Viện trưởng Viện Tim mạch Việt Nam, Bệnh viện Bạch Mai, cho biết thành công của ca can thiệp không chỉ nằm ở việc xử lý một khối phình có kích thước lớn mà còn cho thấy hiệu quả của mô hình Heart Team trong lựa chọn và triển khai chiến lược điều trị.

Theo PGS.TS.BS Nguyễn Thị Thu Hoài, việc lựa chọn can thiệp nội mạch thay vì phẫu thuật mở trong bối cảnh giải phẫu phức tạp đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng về hình ảnh học, xây dựng chiến lược can thiệp phù hợp và khả năng xử trí các tình huống phát sinh.

Đây cũng là hướng đi được Viện Tim mạch Việt Nam chú trọng nhằm tăng cường ứng dụng các kỹ thuật xâm lấn tối thiểu, giảm sang chấn và rút ngắn thời gian hồi phục cho người bệnh.

Phình động mạch chủ: "kẻ sát nhân thầm lặng"

Các bác sĩ cảnh báo, phình động mạch chủ thường tiến triển âm thầm và có thể không gây triệu chứng rõ ràng trong thời gian dài. Nhiều trường hợp chỉ được phát hiện khi bệnh đã tiến triển hoặc xuất hiện biến chứng nứt, vỡ.

Khi động mạch chủ bị vỡ, tình trạng mất máu cấp có thể diễn biến đặc biệt nhanh và nguy hiểm, tỷ lệ tử vong rất cao.

Do đó, người dân, đặc biệt nhóm trên 50 tuổi, người có tiền sử tăng huyết áp, hút thuốc lá hoặc có các triệu chứng đau tức ngực, đau lưng kéo dài, cần chủ động thăm khám và kiểm tra sức khỏe định kỳ.

Việc phát hiện sớm phình động mạch chủ thông qua các phương pháp chẩn đoán hình ảnh phù hợp như siêu âm hoặc chụp cắt lớp vi tính (CT) giúp bác sĩ đánh giá chính xác tình trạng tổn thương, theo dõi diễn biến và lựa chọn phương án điều trị phù hợp trước khi xảy ra biến chứng nguy hiểm.

Ý kiến của bạn