Đào tạo bác sĩ nội trú là đầu tư, không phải chi phí

GS.TS.BS Phạm Mạnh Hùng

GS.TS.BS Phạm Mạnh Hùng

Trưởng Bộ môn Tim mạch – Trường Đại Học Y Hà Nội; Viện trưởng Viện Tim mạch - Bệnh viện 19-8 Bộ Công An

Blog thầy thuốc
SKĐS - Dự thảo Thông tư của Bộ Y tế về đào tạo bác sĩ nội trú bác sĩ chuyên khoa đã mở ra một cơ hội rất quan trọng để có những bước chuyển tiếp và tiến tới con đường học thuật và nghiên cứu.


Dự thảo hiện quy định đào tạo bác sĩ nội trú là chính quy, tập trung toàn thời gian, tối thiểu ba năm; người học phải thường xuyên có mặt tại bệnh viện hoặc cơ sở thực hành để học tập và làm việc.

Như vậy, về bản chất, bác sĩ nội trú không giống người học một chương trình đại học thông thường. Họ khám bệnh, theo dõi người bệnh, trực, tham gia cấp cứu, thủ thuật và điều trị dưới sự giám sát. Họ học nhưng đồng thời cũng tham gia trực tiếp tạo ra dịch vụ y tế. Dự thảo cũng đã đề cập học bổng, thù lao và bồi dưỡng, nhưng việc chi trả còn phụ thuộc nhiều vào quyết định và nguồn lực của từng cơ sở.

Theo tôi, chúng ta cần tiến tới coi bác sĩ nội trú là một thành phần của nguồn nhân lực y tế đang được đào tạo, từ đó xây dựng chính sách toàn diện về lương hoặc trợ cấp, bảo hiểm, điều kiện làm việc, trực, nghỉ ngơi và bảo vệ sức khỏe nghề nghiệp. Đây hoàn toàn phù hợp với tinh thần của Nghị quyết 20-NQ/TW năm 2017 khi khẳng định nghề y là nghề đặc biệt, nhân lực y tế cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt; đồng thời khẳng định đầu tư cho bảo vệ và chăm sóc sức khỏe là đầu tư cho phát triển. Nghị quyết 72-NQ/TW năm 2025 còn đi xa hơn khi yêu cầu có chính sách ưu đãi, đãi ngộ đặc biệt ngay trong suốt quá trình đào tạo nhân lực y tế.

Như vậy, đề xuất hỗ trợ tài chính hoặc trả lương cho bác sĩ nội trú không phải là một yêu cầu riêng của người học. Nó phù hợp với định hướng chiến lược về phát triển nguồn nhân lực y tế của Đảng và Nhà nước.

Đào tạo bác sĩ nội trú là đầu tư, không phải chi phí- Ảnh 1.

Đầu tư cho đào tạo bác sĩ nội trú cần được nhìn nhận là đầu tư vào hạ tầng con người của hệ thống y tế. Ảnh BSCC

Hai tỷ đô la mỗi năm và một bài toán đầu tư đáng suy nghĩ

Có một phép so sánh rất đáng suy nghĩ. Theo số liệu Bộ Y tế từng công bố và hiện được dẫn lại trên Cổng thông tin Bộ Y tế, mỗi năm khoảng 40.000 người Việt Nam ra nước ngoài khám, chữa bệnh, với chi phí ước tính 2 tỷ USD. Trong khi đó, Việt Nam đã bắt đầu thu hút bệnh nhân quốc tế, với doanh thu khoảng 1 tỷ USD mỗi năm, nhưng tiềm năng vẫn còn rất lớn. Nghị quyết 72-NQ/TW cũng đặt mục tiêu phát triển các trung tâm y tế chuyên sâu, chất lượng cao ngang tầm khu vực và quốc tế, qua đó thu hút du lịch chữa bệnh và giảm tình trạng người dân ra nước ngoài điều trị.

Đây là một bài toán kinh tế rất đáng suy ngẫm.

Nếu mỗi năm người Việt chi khoảng 2 tỷ USD cho khám, chữa bệnh ở nước ngoài, thì dành một phần nguồn lực tương xứng để đầu tư lâu dài cho đào tạo bác sĩ chuyên khoa – từ chi phí đào tạo, tiền lương bác sĩ nội trú đến phát triển bệnh viện thực hành, đội ngũ giảng viên và hệ thống kiểm định – có thể tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ hàng chục triệu người trong nhiều thập niên.

Máy móc có thể khấu hao sau 5-10 năm, nhưng một bác sĩ chuyên khoa được đào tạo tốt có thể chăm sóc hàng chục nghìn người bệnh trong 30-40 năm hành nghề và tiếp tục đào tạo nhiều thế hệ bác sĩ.

Vì vậy, đầu tư cho đào tạo bác sĩ nội trú cần được nhìn nhận là đầu tư vào hạ tầng con người của hệ thống y tế, không phải khoản chi giáo dục đơn thuần. Mục tiêu trước hết không phải là thu ngoại tệ từ du lịch y tế, mà là giúp người dân được tiếp cận dịch vụ chuyên môn cao ngay tại quê hương, với chi phí hợp lý và công bằng hơn giữa các vùng miền. Khi chất lượng hệ thống đủ cao, khả năng thu hút người bệnh quốc tế sẽ là hệ quả tự nhiên.

Không thể thay đổi trong một ngày, nhưng phải xác định đích đến ngay hôm nay

Tôi hoàn toàn đồng ý rằng Việt Nam chưa thể ngay lập tức chuyển từ hai hệ thống sang một hệ thống duy nhất. Chúng ta đã có bác sĩ nội trú, chuyên khoa I, chuyên khoa II tồn tại nhiều thập kỷ; điều kiện giữa các địa phương và cơ sở đào tạo cũng rất khác nhau. Dự thảo đã dành Điều 25 cho các quy định chuyển tiếp, nhằm bảo đảm quyền lợi của người đang học và giá trị của các văn bằng đã cấp.

Vì vậy, trước mắt có thể tiếp tục duy trì song song chương trình bác sĩ nội trú và bác sĩ chuyên khoa. Tuy nhiên, Thông tư cần xác định rõ đây là giai đoạn chuyển tiếp.

Trong 5-10 năm tới, có thể từng bước xây dựng: một chuẩn năng lực quốc gia cho mỗi chuyên ngành; một chương trình lõi thống nhất; hệ thống đánh giá năng lực tại nơi làm việc; nhật ký đào tạo và hồ sơ năng lực; các công cụ đánh giá như Mini-CEX, DOPS, EPA; chuẩn đánh giá hoặc kỳ đánh giá cuối chương trình thống nhất; mạng lưới bệnh viện đào tạo và hệ thống kiểm định chất lượng độc lập.

Khi các điều kiện đủ chín muồi, hai lộ trình có thể từng bước hội tụ thành một hệ thống đào tạo bác sĩ chuyên khoa thống nhất, trong đó bác sĩ nội trú trở thành mô hình cốt lõi của đào tạo thực hành chuyên khoa.

Sau đó, đào tạo chuyên khoa sâu (fellowship/subspecialty) sẽ đáp ứng nhu cầu chuyên môn nâng cao, trong khi thạc sĩ và tiến sĩ tiếp tục là con đường đào tạo học thuật và nghiên cứu.

Nếu không bắt đầu hôm nay, khoảng cách sẽ ngày càng lớn

Thế giới không đứng yên. Singapore tiếp tục cập nhật đào tạo bác sĩ chuyên khoa theo năng lực và các hoạt động nghề nghiệp có thể giao phó. Pháp điều chỉnh chương trình để tăng dần mức độ tự chủ của bác sĩ trẻ. Thụy Điển duy trì hệ thống chuẩn hóa năng lực chuyên khoa ở cấp quốc gia. Trung Quốc đã triển khai đào tạo bác sĩ nội trú chuẩn hóa trên toàn quốc và tiếp tục phát triển đào tạo chuyên khoa sâu.

Việt Nam không nhất thiết phải sao chép mô hình của bất kỳ quốc gia nào. Nhưng nếu không xác định rõ đích đến và lộ trình ngay từ hôm nay, 10 năm nữa chúng ta có thể vẫn tranh luận về tên văn bằng, hệ đào tạo và cơ chế tương đương, trong khi thế giới đã tiến xa hơn về đào tạo dựa trên năng lực, kiểm định và công nhận chuyên khoa.

Nghị quyết 72-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2045 xây dựng hệ thống y tế Việt Nam hiện đại, công bằng, hiệu quả và bền vững, với các chỉ số chăm sóc sức khỏe ngang tầm các nước phát triển trong khu vực và thế giới. Muốn đạt mục tiêu đó, không thể chỉ đầu tư vào bệnh viện, thiết bị và công nghệ mà trước hết phải đầu tư vào con người.

Đầu tư cho đào tạo bác sĩ nội trú và bác sĩ chuyên khoa là một trong những khoản đầu tư dài hạn quan trọng nhất của hệ thống y tế. Điều cần thống nhất cuối cùng không phải tên văn bằng, mà là chất lượng người thầy thuốc.

Hôm nay có thể cần hai lộ trình, nhưng ngày mai phải hướng tới một chuẩn chung. Bởi cuối cùng chỉ có một người bệnh, và người bệnh có quyền được hưởng một chuẩn chất lượng chăm sóc như nhau, dù sống ở Hà Nội, TP.HCM, miền núi hay vùng sâu, vùng xa.

Nếu đặt nền móng cho hệ thống đó từ hôm nay, Việt Nam không chỉ có thể giữ người bệnh ở lại điều trị trong nước mà còn có cơ hội trở thành điểm đến y tế uy tín trong khu vực.Nếu không bắt đầu từ hôm nay, chúng ta sẽ khó bắt kịp nhịp tiến của thế giới.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả!

Đào tạo bác sĩ nội trú là đầu tư, không phải chi phí- Ảnh 2.Thúc đẩy hoàn thiện quy định đào tạo bác sĩ nội trú, bác sĩ chuyên khoa

SKĐS - Bộ Y tế khẩn trương hoàn thiện dự thảo Thông tư nhằm chuẩn hóa đào tạo sau đại học, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế.

Trưởng Bộ Môn Tim Mạch – Trường Đại Học Y Hà Nội; Viện trưởng Viện Tim Mạch - Bệnh viện 19-8 Bộ Công An
Ý kiến của bạn