Học viện Y Dược học cổ truyền là cơ sở trực thuộc Bộ Y tế và từ nhiều năm nay tham gia đào tạo nguồn nhân lực y dược cổ truyền ở cả trình độ đại học và sau đại học. Đây là một lĩnh vực rất cần được đổi mới.
Thực tế được chính Bộ Y tế nhìn nhận là hoạt động khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền và kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại đang phát triển theo hướng ngày càng đa dạng, trong khi đào tạo sau đại học y học cổ truyền chưa thực sự phát triển tương ứng theo các chuyên ngành sâu.
Năm 2024, tại hội thảo tổ chức ở Học viện, Bộ Y tế cũng đặt vấn đề phải thu hẹp khoảng cách giữa nhu cầu thực tế tại các cơ sở khám chữa bệnh với hệ thống đào tạo, văn bằng, chứng chỉ trong lĩnh vực này. Đây chính là chỗ tôi cho rằng dự thảo mới có thể tạo ra một thay đổi rất tích cực. Một bác sĩ y học cổ truyền hiện đại không thể chỉ giỏi lý luận cổ truyền, kê đơn thuốc cổ truyền hay thực hiện một số kỹ thuật quen thuộc. Người bác sĩ đó phải đủ năng lực nhận diện các tình trạng cấp cứu, đọc được kết quả cận lâm sàng cần thiết, hiểu thuốc tân dược mà bệnh nhân đang sử dụng, nhận biết tương tác, biết khi nào có thể điều trị bằng y học cổ truyền và quan trọng không kém là biết khi nào phải chuyển người bệnh sang phương pháp khác.
Ngược lại, thế mạnh của y học cổ truyền như châm cứu, dưỡng sinh, phục hồi chức năng, điều trị không dùng thuốc, sử dụng thuốc cổ truyền… cũng cần được đào tạo chuyên sâu chứ không thể dừng ở mức "biết nhiều thứ nhưng không thật sâu một lĩnh vực". Vì vậy, nếu xây dựng chuẩn chương trình chuyên khoa quốc gia, tôi mong Bộ Y tế không thiết kế y học cổ truyền như một khối duy nhất.
Cần xác định được các hướng chuyên khoa thực sự xuất phát từ mô hình bệnh tật, nhu cầu người bệnh và khả năng phát triển chuyên môn của hệ thống y tế. Điều đáng mừng là câu chuyện này đã được đặt ra từ trước. Bộ Y tế từng ghi nhận Học viện đã phát triển thêm những hướng chuyên khoa như CKI Châm cứu, CKI Dược liệu - Dược học cổ truyền và đồng thời chỉ ra nhu cầu phải tiếp tục phát triển đào tạo y học cổ truyền theo hướng đa ngành, gắn với thực tiễn. Cải cách lần này là cơ hội để làm việc đó một cách bài bản hơn.
Tôi rất đồng tình khi dự thảo đặt chuẩn cơ sở đào tạo và bệnh viện thực hành thành một trụ cột quan trọng. Một bệnh viện có nhiều giường chưa chắc là nơi đào tạo tốt. Một khoa có nhiều bác sĩ bằng cấp cao cũng chưa chắc người học được cầm tay chỉ việc. Có những thứ hồ sơ rất đẹp nhưng người học lại ít được giao bệnh nhân, ít được làm thủ thuật và thiếu người giám sát thực sự.
Theo tôi, năng lực đào tạo phải được đo bằng "cơ hội học tập lâm sàng" mà một cơ sở có thể cung cấp. Mỗi chuyên ngành cần xác định số lượng và cơ cấu ca bệnh tối thiểu; số người học tối đa trên một người hướng dẫn; những kỹ thuật người học bắt buộc phải thực hiện dưới giám sát; hệ thống nhật ký năng lực; đánh giá định kỳ tại nơi làm việc; trách nhiệm phản hồi của giảng viên và cơ chế xử lý khi cơ sở thực hành không đảm bảo chất lượng. Chỉ tiêu tuyển sinh cũng phải đi theo năng lực ấy. Nếu một khoa chỉ có khả năng đào tạo tốt 10 bác sĩ thì không nên tuyển 30 người chỉ vì nhu cầu học rất lớn. Trong y khoa, mở rộng quy mô không đúng năng lực cuối cùng người chịu hậu quả không chỉ là người học mà còn là bệnh nhân của họ nhiều năm sau.
Tôi cho rằng việc Bộ Y tế mở lại toàn bộ câu chuyện đào tạo bác sĩ nội trú và bác sĩ chuyên khoa vào thời điểm này là cần thiết. Dự thảo vẫn đang trong quá trình tiếp tục tổng hợp, hoàn thiện và lấy ý kiến rộng rãi, vì vậy đây chính là lúc các cơ sở đào tạo, bệnh viện, bác sĩ, người học và các đơn vị sử dụng nhân lực cần nói thẳng những vướng mắc của mình. Nhưng tôi mong cuộc cải cách lần này đừng kết thúc ở việc đổi CKI, CKII thành một tên gọi mới; đừng chỉ thêm vài tiêu chuẩn vào hồ sơ mở ngành; càng không nên cho rằng chuẩn hóa văn bằng đồng nghĩa với chuẩn hóa được bác sĩ.
Điều người bệnh cần cuối cùng vẫn rất giản dị: khi họ nằm trước một bác sĩ chuyên khoa, người bác sĩ đó phải đủ năng lực nhận ra vấn đề, đưa ra quyết định đúng, biết giới hạn của mình và chịu trách nhiệm với quyết định ấy.
Từ trải nghiệm của một người làm việc trong cơ sở đào tạo y tế công lập, tôi nghĩ đây mới là thước đo thành công của Thông tư. Đổi tên tấm bằng tương đối dễ. Thay đổi cách chúng ta đào tạo một bác sĩ mới là phần khó nhất. Nhưng nếu đã quyết định cải cách, chúng ta nên làm đến tận phần khó ấy.