Đảng sâm kiện tỳ, ích phế

SKĐS - Như ta đã biết, công năng kiện tỳ có liên quan mật thiết đến công năng ích khí. Công năng kiện tỳ làm cho tạng tỳ mạnh lên, dẫn đến việc hấp thu dinh dưỡng sẽ tăng lên, nguồn năng lượng (nguồn khí) cung cấp cho tạng phế nói riêng và cho cơ thể nói chung cũng sẽ dồi dào hơn. Đảng sâm là vị thuốc thỏa mãn cả hai công năng “kiện tỳ” và “ích phế”.

Ở Việt Nam, đảng sâm có tới 3 - 4 loài. Hiện nay, trên thị trường Việt Nam, đảng sâm có được từ 2 nguồn: Một là nhập khẩu từ Trung Quốc với 2 loại: đảng sâm [Codopsis pilosula (franch.) Nann f.] và xuyên đảng sâm [Codopsis tangshen] với rễ hình trụ tròn, hơi cong, dài khoảng 10-35cm (rễ xuyên đảng sâm dài đến 45cm), đường kính từ 0,4-2cm, có vỏ màu vàng ngà hoặc hơi trắng; vỏ rễ có nhiều nếp nhăn dọc. Thể chất dẻo, mùi thơm, khi nhấm có vị hơi ngọt, hơi nhớt. Hai là đảng sâm Việt Nam, dược liệu cũng là rễ song mập và ngắn hơn đảng sâm Trung Quốc, nhiều khi phân nhánh, cũng có hình trụ, chỉ dài khoảng 6-15cm, đường kính 0,5-2cm. Phía đầu trên của rễ thì phát triển to hơn. Vỏ rễ có màu vàng ngà, trên có những rãnh dọc và ngang. Thể chất chắc, dễ bẻ, mùi thơm, nhấm có vị hơi ngọt.

Cây đảng sâm (trái) và rễ khô của cây đảng sâm làm thuốc.

Cây đảng sâm (trái) và rễ khô của cây đảng sâm làm thuốc.

Về mặt hóa học, đảng sâm chứa saponin, polysaccharid,  alcaloid, sterol, chất béo, chất nhầy, chất nhựa; các nguyên tố vi lượng: Ca, Mg, Fe, Zn… và nhiều acid amin: arginin, threonin, methioni… Đảng sâm có một số tác dụng quý như: tăng lực (đảng sâm qua chế biến tốt hơn đảng sâm sống); tăng thể trọng; co bóp tử cung; tăng khả năng miễn dịch và kích thích miễn dịch; tăng hồng cầu, cải thiện tình trạng thiếu máu, giảm bạch cầu, hạ huyết áp; hạ đường huyết, cường tim, chống viêm...

Theo y học cổ truyền, đảng sâm có vị ngọt, tính bình. Quy vào 2 kinh tỳ, phế. Tác dụng kiện tỳ, ích phế. Trị tỳ, phế hư nhược, thở dồn, tim đập hồi hộp, ho suyễn, tiêu khát, đại tiện lỏng, thiếu máu, da xanh xao, vàng vọt,  mới ốm dậy, kém ăn, cơ thể suy nhược. Ngày dùng 20-30g, sắc uống hoặc thuốc hoàn, thuốc bột. Trong  nhiều trường hợp, đảng sâm có thể dùng thay thế nhân sâm với chức năng bổ khí song lại thiên về bổ khí phế và khí tỳ nhiều hơn.

Một số cách dùng đảng sâm chữa bệnh

Kém ăn, cơ thể suy nhược, mệt mỏi: đảng sâm 16g, bạch truật 12g, bạch phục linh 8g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày 1 thang sau bữa ăn 2 giờ. Hoặc đảng sâm 20g; bạch truật, đương quy, ba kích mỗi vị 12g. Sắc uống ngày 1 thang hoặc tán bột, hoàn với mật ong, ngày dùng 12-20g. Uống sau bữa ăn 2 giờ.

Mệt mỏi chán ăn, trướng bụng, phân lỏng, tiêu chảy lâu ngày, lòi dom, sa dạ con: đảng sâm, bạch truật, thăng ma, cam thảo, sài hồ, trần bì mỗi vị 30g; hoàng kỳ 100g, đương quy 2g, gừng tươi 12g, đại táo 102g. Tán bột, thêm mật ong vừa đủ, làm hoàn 9g, ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 hoàn trước bữa ăn 2 giờ.

Tâm tỳ hư, khí huyết đều hư, người hay lo sợ, hay quên, tim hồi hộp, đánh trống ngực, mất ngủ, ngủ mê, đoản hơi, ăn kém: đảng sâm, mộc hương mỗi vị 80g; bạch truật, hoàng kỳ, phục linh, long nhãn, hắc táo nhân mỗi vị 160g; viễn chí, đương quy mỗi vị 16g; cam thảo, đại táo mỗi vị 40g. Tán bột, thêm mật ong vừa đủ làm hoàn loại 9g. Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 1 hoàn trước bữa ăn 2 giờ.

Người cao tuổi, ốm yếu lâu ngày: đảng sâm 40g; long nhãn, đương quy, ngưu tất, mạch môn mỗi vị 12g. Sắc uống ngày 1 thang sau bữa ăn.

Bệnh lao phổi, ho nhiều: đảng sâm 16g, hoài sơn 15g; ý dĩ, mạch môn, xa tiền tử, hạnh nhân, khoản đông hoa mỗi vị 10g, cam thảo 3g. Hoặc đảng sâm 16g; bạch truật, hoài sơn, mạch môn, ngọc trúc, bách bộ mỗi vị 12g, ngũ vị tử 6g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần, uống trước bữa ăn 1 giờ 30 phút.

Tim hồi hộp, khó thở, suyễn, mệt mỏi, choáng váng: đảng sâm, mạch môn mỗi vị 20g; ngũ vị tử 12g, cam thảo 6g. Nếu tức ngực, thêm đan sâm 16g; đào nhân, hồng hoa mỗi vị 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Sốt xuất huyết mà huyết áp hạ: đảng sâm, bạch truật mỗi vị 20g; mạch môn, thục địa mỗi vị 12g. Sắc uống.

Rong kinh: đảng sâm 12g; hoàng kỳ, bạch truật, thăng ma mỗi vị 8g; cam thảo 4g. Sắc uống ngày 1 thang.

Khí hư ở phụ nữ: đảng sâm, hoài sơn mỗi vị 16g; bạch truật 20g; bạch thược, sài hồ, xa tiền tử mỗi vị 12g; thương truật, trần bì, bạch giới tử (sao) mỗi vị 8g; cam thảo 4g. Sắc uống ngày 1 thang trước bữa ăn 1 giờ 30 phút.

Tiểu rắt, tiểu không tự chủ: đảng sâm 16g; hoàng kỳ, mẫu lệ mỗi vị 12g; tang phiêu tiêu, hậu phác mỗi vị 8g; lộc nhung 1g, xích thạch chi 6g. Sắc uống ngày 1 thang trước bữa ăn 1 giờ 30 phút.

Lưu ý: Không nên dùng đảng sâm cùng lê lô.


GS.TS. PHẠM XUÂN SINH
Ý kiến của bạn