Cách đây hơn chục năm, nhân qua Mỹ, tôi ở lại mấy ngày ở San José để hàn huyên với kỹ sư Tùng, người bạn nối khố thời trường Bưởi.
Gặp nhau, tóc đã bạc phơ. Đêm nằm cùng giường, “ôn cố” thì nhiều “tri tân” thì ít. Những kỷ niệm đẹp của chúng tôi là ngày nghỉ, tôi đạp xe từ Hà Nội về quê anh chơi suốt ngày. Qua cầu Đuống, rẽ trái, một đoạn đê là tới làng Du Lâm. Vui nhất là mùa nước, đứng trên đê, đợi anh chở thuyền ra đón vào làng. Nhớ mãi một lùm cây có lăng thờ các hoàng hậu nhà Lý, thuyền lượn quanh lăng. Hàng chục năm sau, kháng chiến chống Pháp, vùng Du Lâm bị chìm dưới nước sau vụ tai nạn Bắc Hưng Hải.
Nay tôi đến bên đê, chỉ thấy nước mênh mông. Thực đúng nghĩa đen “cuộc bể dâu”, gắn liền với cuộc bể dâu của đất nước, trải qua nghìn năm từ thời nhà Lý. Câu chuyện được kể trong cuốn tiểu thuyết lịch sử Ngược đường trường thi (1940) của nhà văn Nguyễn Triệu Luật (1903-1946), một người dòng họ Lý. Có thể coi cuốn tiểu thuyết đồng thời là gia phả dòng họ Lý.
Tôi có dịp dạy học ở Vinh cùng ông Luật vào năm 1940-1941. Ông Luật vào hàng cha chú lại trầm ngâm ít nói nên tôi không gần ông lắm. Chỉ biết ông là nhà viết tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng, người thày gương mẫu, đi làm cách mạng, từng bị Tây bỏ tù. Ông được học trò rất quý.
Nguyễn Triệu Luật viết tiểu thuyết lịch sử chủ yếu là sự thật lịch sử, thêm thắt ít nhiều dã sử để hấp dẫn người đọc. Những tư liệu lịch sử được ông tra cứu công phu. Tác giả ngược đường lịch sử các khoa thi ở Hà Nội từ thời Thăng Long (thế kỷ 11) để kể lại lịch sử đất nước, qua đó, đối chiếu những thăng trầm của dòng họ Lý.
Du Lâm còn có tên nôm là làng Cói Ao dài, thuộc tổng Cói. Nhiều vua thời Lý hay đi chơi để sống gần thiên nhiên, cho xây ly cung để nghỉ lại, nên có tên Du Lâm.
Sau khi nhà Trần cướp ngôi nhà Lý, để triệt nhà Lý, thái sư Trần Thủ Độ bắt tông thuộc nhà Lý đổi ra họ Nguyễn và phải làm dân đen suốt đời. Những cận thần nhà Lý và gia đình bị tập trung sống ở biên giới phía Bắc thành hai làng, chỉ được làm lính, cấm thi cử. Sau những cuộc xâm lăng của Mông Cổ, hai làng tan hoang, dân một số bị đưa vào phía Nam, một số di cư nơi khác. Có một dòng họ Lý đã cải thành họ Nguyễn, lưu lạc về Kinh Bắc, lập làng Vân Điềm. Họ mai danh ẩn tích làm ruộng. Mỗi khi sắp qua đời, bao giờ người ra đi cũng dặn con cháu: “Họ ta là một cành của vua nhà Lý, tổ ta là hậu duệ Lý Thánh Tông...”.
Cứ thế qua mấy trăm năm, dòng họ khấm khá lên, có người đi học, làm thày đồ, có người, như Nguyễn Thật được một nhà quyền quý cho ăn học. Đến năm 1594, khi nhà Mạc suy vong, vua Lê Thế Tông trở lại Thăng Long rồi mở khoa thi Hội đầu tiên của thời Lê Trung hưng. Trường thi dựng ở Bến Cỏ, tức cái bãi bên sông Hồng sau Nhà hát lớn Hà Nội bây giờ. Nguyễn Thật đỗ đầu bảng Tiến sĩ, “đệ nhất khai khoa, đệ nhất danh”. Ông trở thành công thần khai quốc, làm Thượng thư và được đi sứ Trung Quốc, có công dẹp giặc được phong quận công, tước hầu. Con cháu Lan quận công Nguyễn Thật đều đỗ đạt và làm văn quan. Cuối thế kỷ 17, có nhánh của Hoằng quận công chuyển sang nghiệp võ cũng rất oanh liệt. Đầu thế kỷ 19, thời Tây Sơn và triều Nguyễn, ở Du Lâm, nho sĩ Nguyễn Án dòng họ Lý rời làng Du Lâm ra Thăng Long lẩn tránh, vì gia đình là cận thần nhà Lê, ông này là cháu 7 đời Nguyễn Thật. Nguyễn Án dạy học và kết bạn văn chương với Phạm Đình Hổ, hai ông là đồng tác giả cuốn Tang thương ngẫu lục. Khi triều Gia Long mở kỳ thi đầu ở Thăng Long (ở phố Tràng Thi, Hà Nội ngày nay) Nguyễn Án bị ép phải đi thi rồi được bổ làm tri huyện.
Người con thứ tư của ông là Tiến sĩ Nguyễn Tư Giản làm quan thời Tự Đức, mang lại vẻ vang cho dòng họ. Ông nổi tiếng hay chữ, làm đến Thượng thư bộ lại, nhưng bước đường làm quan gặp nhiều trắc trở. Ông có tài trị thủy, đi sứ Trung Quốc về, ông chủ trương cùng Bùi Viện, Nguyễn Trường Tộ canh tân đất nước, nhưng không được Tự Đức chấp nhận, ông để lại nhiều tác phẩm văn thơ có giá trị. Nguyễn Triệu Luật là cháu nội cụ Nguyễn Tư Giản, anh Tùng là chắt. Cả hai đều rất tự hào về dòng họ được kể lại trong Ngược đường trường thi. Quả là Du Lâm đã “trải qua một cuộc bể dâu”!
Hữu Ngọc