Đó là thân phận của ba người, một già hai trẻ trong một gia đình vạn chài trên sông Hồng. Trước đây, họ cũng có một căn nhà con con bên bờ sông, nhưng một đêm nước to đã cuốn trôi tất cả. Người đàn ông mang vợ con mình lên thuyền lênh đênh hết khúc sông này đến khúc sông khác. Cho đến bây giờ, qua bao nhiêu năm, họ chưa có một đêm ngủ trên bờ. Nơi họ trú ngụ là con thuyền nhỏ, đang neo đậu ở xóm chài thôn Văn Quán, xã Văn Khê, Mê Linh, Vĩnh Phúc.
Sinh ra đã mang “thân cò vạc”
Tôi đứng trên bờ, gọi "ông Oanh ơi". Cô con gái nhỏ của ông ngó đầu ra, đưa thuyền vào đón tôi lên "nhà" của mình. Chị bảo: "Bố em về quê ăn giỗ, mời anh lên nhà em chơi. Em tên là Sen". Tròng trành chừng 15 phút, cuối cùng tôi cũng lên được "nhà" của Sen. Đó là một con thuyền nhỏ, là nơi trú ngụ của ba bố con ông Phan Đình Oanh.
Ước mơ của người phụ nữ tật nguyền này là có một ngôi nhà nhỏ trên mặt đất để trú ngụ. |
Chị Sen kể với giọng niềm nở: "Nhà em đến đời chúng em là bốn đời làm dân chài lên đênh sông nước, nhưng có lẽ đến đời chị em em là vất vả nhất. Cụ em, ông em truyền cho bố em, rồi bố lại truyền cho chị em em. Anh biết đấy, nghề này vất vả lắm. Em vừa mới được ngơi tay đấy".
Chị Phan Thị Vinh thì xa xăm: "Nhà em thực ra ở thôn Thụy An, xã Tráng Việt cơ. Trước đây, khi bố em còn làm ở Hợp tác xã chăn nuôi cá xã Tráng Việt, nhà cũng đã được phân đất, bố em dựng được một gian nhà cấp bốn. Nhưng chỉ đưa gia đình lên ở được đúng một đêm thì nước sông Hồng dâng cao. Giữa đêm tối, bố phải mang mấy mẹ con chạy ra ngoài. Lũ cuốn mất nhà đi. Bố đưa cả nhà xuống thuyền, từ đó không có đất. Cũng từ đó chị em em chưa một ngày nào được ngủ trên bờ".
Trước khi xuống thuyền, tôi đã được người dân kể cho nghe chuyện về gia đình ông Phan Đình Oanh, sau khi sinh con đầu lòng khoẻ mạnh, vợ ông Oanh tiếp tục có thai, độ thai được 6 tháng, bà Lưu Thị Đọn vợ ông Oanh vẫn còn cùng ông chèo thuyền đi thả lưới. Có lần đang thả lưới, nghe tiếng kêu cứu, bà Đọn bơi thuyền ra cứu được một lúc ba người, có một người cũng đang mang thai. Người dân bảo, khi mang thai mà làm được một điều phúc đức như thế thì trời đất sẽ phù hộ. Thế nhưng, ông Trời ngoảnh mặt lại với gia đình bà. Đứa con sinh ra hai chân cứ co quắp, không thể cử động được như những đứa trẻ bình thường. Lần thứ ba, đứa trẻ mới sinh có hai bàn chân như cái vây cá, chổng ngược lên quặt vào nách. Kể từ đó, vợ chồng ông không sinh nở thêm. Sau khi bị nước cuốn mất nhà, vợ chồng con cái sống nay đây mai đó trên những đoạn sông Hồng nhờ vào cái tôm cái tép. Hơn mười năm sau, anh con cả tên Oánh lấy vợ và theo vợ về quê, hai cô con gái ở lại thuyền cùng với bố mẹ. Đến năm 2001, bà Đọn vợ ông Oanh mất, bỏ lại hai cô con gái sống làm thân cò vạc. Hiểu về một gia đình từ nơi khác đến trú ngụ như vậy, tôi hiểu tấm lòng của người dân đối với bố con ông Oanh. Bằng chứng là họ đã tận tình giúp đỡ bố con ông trong cuộc sống hằng ngày như lấy hộ nước ăn, đi chợ giúp, có cái rau cái củ cũng gửi ra thuyền. Lắm khi gia đình ba người không kiếm được gì, họ lại chia sẻ bát cơm cho hai người phụ nữ bất hạnh. Mấy năm trước còn khoẻ, ông Oanh vẫn đi thả lưới bắt cá. Nhưng gần đây, nhất là từ khi vợ ông qua đời thì ông đau yếu liên miên, không dám đi thả lưới, đánh đó nữa. Cuộc sống của ông giờ phụ thuộc vào công việc của hai cô con gái, đặc biệt là chị Sen còn nhanh nhẹn.
Hai chị em chèo thuyền kiếm sống
Chưa bao giờ hai người được dùng đôi chân mình để đi, ngược lại nó chỉ làm vướng víu. Tất cả những sinh hoạt hằng ngày đều phải dùng đến sức của đôi tay. Đôi tay đu người chuyển từ thuyền này sang thuyền khác, đôi tay thả lưới, thả đó. Tuy nhiên, vì thuyền nhỏ nên tròng trành, cũng từ cuộc sống bấp bênh này mấy lần sông nước suýt cướp đi mạng sống của hai chị em. Đó là bị rơi xuống nước khi đang làm việc. Không thể bơi được, cả Vinh và Sen chới với, may mắn được người dân cứu lên thì trong bụng đã đầy nước. Cho đến bây giờ, chị Sen và chị Vinh vẫn còn ám ảnh bởi những lần bị rơi xuống nước. Cho nên, trong mỗi lần chuyển thuyền, từ thuyền nhỏ lên "thuyền nhà", các chị đều rất thận trọng. Khi tôi hỏi về công việc, chị Vinh nói: "Vất vả lắm anh ơi. 3 giờ sáng chúng em đã phải thức dậy đi thả đó rồi. Đến 8 giờ ăn cơm xong lại đi. Trưa về nhà nghỉ, rồi đi làm cho cho đến 4 giờ chiều mới trở về nhà ăn cơm tối. Mỗi ngày chỉ ăn hai bữa. Con tôm con tép thì ngày càng hiếm, như hôm nay, em chỉ kiếm được 2 lạng, bán buôn cho người ta đến lấy chỉ được 10 ngàn đồng".
Được biết, giờ đây nước trong không có cá, trên cái mom sông này, chị em Phan Thị Vinh, Phan Thị Sen không thả được lưới. Cái tôm cái tép ngày càng hiếm hoi. Lại bị dân đánh điện tiêu diệt cả những cái trứng tôm mới sinh. Hai chị em giờ chỉ thả đó, tiền mua một cái đó bây giờ giá 2 nghìn, thả chỉ được 2 - 3 tháng là nát. Hai chị em chị phải dùng 300 chiếc đó. Tiền mua thính mỗi ngày đã mất 4 ngàn. Thành ra, thu nhập cả ngày của ba con người chẳng đáng là bao. Tôi ngồi, nghe tiếng thở dài của hai chị em khi ông bố không có nhà, não nuột chảy dài cả một khúc sông Hồng. Người ta bảo "trẻ cậy cha, già cậy con", ba bố con ông đang dựa vào nhau để sống, cho qua những ngày tháng nổi trôi sông nước, làm thân cò vạc bè bạn với cái tôm cái tép.
Tuy mẹ các chị mất đã mấy năm, nhưng chị Sen nói hằng đêm vẫn mơ thấy mẹ về. Bà về chăm sóc các chị, nấu cơm cho chị ăn, quét nhà sạch sẽ. Tôi biết, đó chỉ là ước mơ, những ước mơ không bao giờ trở thành hiện thực. Giờ đây, ước mơ của ba bố con chị là có một ngôi nhà nhỏ trên mặt đất để trú ngụ. UBND xã Tráng Việt, quê hương chị chuẩn bị cấp cho ba bố con 40 mét đất ven sông, nhưng giờ vẫn đang đổ đất. Chẳng biết khi có đất rồi, bố con ông lấy tiền đâu xây nhà.
Trước đây xóm vạn chài đông vui lắm. Sau đó nhiều người có tiền mua đất, họ lên bờ định cư, bỏ luôn nghề chài lưới. Giờ cả xóm chài chỉ còn 8 hộ gia đình, nhưng tất cả đều có nhà trên bờ, chỉ bố con ông Oanh là không. Thành ra, vào ngày mưa bão, ba bố con túm tụm trên thuyền tròng trành dột nát. Những đêm mưa như thế, hầu như ba bố con đều phải thức trắng vì dột. Ba bố con ông Oanh dành dụm được đồng nào lại dùng hết vào tiền mua thuốc cho cả ba. Nghèo như họ thì làm gì có tiền đi bệnh viện. Chỉ có chút tiền ít ỏi, nhờ người mua thuốc chữa qua ngày. Từ năm 2007, hai chị Vinh và Sen được Nhà nước trợ cấp mỗi người 60 ngàn đồng một tháng, số tiền tuy ít ỏi nhưng cũng thêm thắt vào tiền mua thuốc và sinh họat cho cả ba người.
Chỉ mong một ngày được đến chợ
Hai chị em "cò vạc" chỉ mong một ngày được đến chợ mua cho mình manh áo mới. Nhưng chợ gần nhất cũng xa hai cây số. Cho nên từ khi sinh ra, hai chị em chưa hề biết chợ như thế nào chứ đừng nói đến tự mua được thứ gì cho mình. Mà thực ra, hai chị cũng có tiền đâu mà mua thứ gì. Ước mơ của hai chị là được nhìn thấy chợ. Nhưng đến nay, người chị 50 tuổi, người em 42 mà vẫn chỉ được thấy qua lời kể của người dân đi chợ về. Mỗi khi có ai đi chợ về mà chị xuống bến, thể nào chị Sen cũng hỏi hôm nay chợ thế nào, có đông không. Chị Sen cũng yêu cầu tôi tả cho chị nghe về cái chợ quê mình, nghe tôi nói mà chị chăm chú nghe, rồi gật gật: "Sướng thế! Sướng thế!".
Gia tài nhiều tiền nhất trên thuyền là chiếc tivi cũ trị giá 300 ngàn đồng của một người dân cho để ba bố con dùng. Nhìn kỹ, tôi còn thấy hai cái nồi nhỏ sứt sẹo đen nhẻm, để trên đống tro bé tẻo teo trên thuyền và một cái ô con con căng mảnh áo mưa để treo mấy bộ quần áo cũ... Nhìn xuống sàn thuyền nhỏ, tôi thắc mắc về chỗ ngủ của ba bố con. Chị Vinh nói: "Cả ba bố con ngủ ở đây, chật lắm anh ạ, chẳng có chỗ mà quay nữa. Em chỉ thương bố em, già rồi, như người ta thì có con mà nhờ, đằng này còn nặng tội vì chúng em".
Ước gì có một phép màu ở đây. Nhưng tôi biết, sẽ chẳng có phép màu thần kỳ nào. Phép màu thực sự chính là sự động viên khích lệ của bà con lối xóm, của UBND xã Tráng Việt và các cơ quan chức năng. Đó chính là tấm lòng đối với những phận nghèo bất hạnh.
Bài và ảnh: Nguyễn Văn Học