Tôi về thăm đôi vợ chồng cụ Hoàng Văn Bòng, Trần Thị Nhung bị bệnh phong sống bao năm trên lưng chừng dãy Lang Trắng, xã Cẩm Bình, huyện Cẩm Thủy, Thanh Hóa. Ðã mấy năm rồi không gặp, tôi thấy tóc họ đã bạc thêm đôi phần, đôi hàng mi bị ăn khuyết hết, nhưng từ thẳm sâu ánh mắt họ dành cho nhau, tôi thấy tràn trề yêu thương, hạnh phúc và vương vấn chút buồn.
“Quái bệnh”
Cụ Trần Thị Nhung năm nay ngoài 70 tuổi quê ở huyện Đông Sơn, Thanh Hóa. Năm 1961, cụ bỗng dưng bị một căn bệnh “lạ” tra tấn. Khắp cơ thể ngứa ngáy không thể chịu được, phải gãi suốt đêm suốt ngày, hễ khi nào ngứa thì gãi đến khi tóe máu vẫn chưa thôi. Thấy lạ, gia đình đã đưa cụ đến các thầy lang để khám chữa, đi đến đâu gia đình cũng đều nhận được những cái lắc đầu trong câm lặng. Năm đó cụ vừa tròn 20 tuổi.
Chạy khắp trong tỉnh Thanh Hóa nhưng không chỗ nào cứu chữa được, gia đình lại tiếp tục đưa cụ đến Ninh Bình, Thái Bình, hay Nghệ An để chạy chữa. Thế nhưng các thầy lang thời đó đều nhất loạt bó tay. Các ông thầy lang cứ khám bệnh xong cho bà liền lôi bố, mẹ ra một chỗ riêng, rồi nhỏ to với nhau điều gì đó. Có lần cụ nghe một ông thầy lang khuyên gia đình nên cho cụ ở ra một khu riêng biệt nào đó, nếu không cả nhà sẽ bị lây hủi mà chết.
Mặc dù bị bệnh nhưng cụ Nhung và cụ Bòng vẫn sống hạnh phúc bên nhau. |
Ông Phạm Minh Tuấn - Chủ tịch UBND xã Cẩm Bình cho biết: “Cách đây 5 - 6 năm, người dân trong xã coi làng phong như một sự khiếp đảm, họ không cho con trẻ bén mảng đến làng phong, nước sinh hoạt của làng đổ ra con khe cạnh chân núi Cột Cờ không ai sử dụng, họ không cho trâu xuống tắm, nếu câu được cá cũng không dám lấy về ăn (vì sợ cá cũng mắc bệnh). Tuy nhiên, đến nay sự kỳ thị đã không còn, xã cấp đất cho những hộ dân ở trong làng phong để họ sản xuất ổn định đời sống, họ được hưởng chính sách hộ nghèo, ngày lễ ngày tết, xã đều có quà đến để thăm hỏi bệnh nhân phong. Ðến nay đã có nhiều cặp vợ chồng là người trong làng phong kết hôn với người thuộc các làng khác trong xã, trẻ con đến trường không còn sợ vì bị kỳ thị nữa”. Riêng gia đình cụ Nhung thuộc diện chính sách, cụ có chồng và con đã hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ, vì thế trường hợp này cũng được các cấp chính quyền rất quan tâm, hỗ trợ. |
Thế rồi gia đình làm riêng cho cụ một cái chòi nhỏ ra góc vườn, hằng ngày ăn uống đều có người mang cơm đến cho, cụ không được bén mảng vào nhà, nếu không sẽ làm lây bệnh cho bố mẹ và các anh chị em của cụ.
Quá xấu hổ vì quái bệnh, lại bị người thân, bạn bè xa lánh, trong đầu cụ nảy sinh ý định sẽ trốn nhà để đến một nơi nào đó thật xa mà không ai biết đến mình. Thế rồi một hôm, gia đình đi làm hết, cụ liền lẻn vào nhà lấy vài bộ quần áo cho hết vào một cái túi cói rồi bỏ nhà ra đi.
Giống như cụ Nhung, cụ Hoàng Văn Bòng cũng gặp phải trường hợp oái oăm tương tự. Năm 23 tuổi, cụ phát hiện mình bị bệnh, sau đó, những vết ngứa và loét cứ ngày càng lan rộng. Lúc đó, bạn bè biết được đều tìm cách xa lánh, không ai dám lại gần. Ngay cả gia đình khi đó cũng cho rằng ma đã ám vào cụ cho nên không được ở trong nhà. Quá tủi hổ, cụ cũng bỏ nhà ra đi vào một buổi tối, khi đó cả gia đình đã vẫn còn chìm sâu trong giấc ngủ.
Vượt qua đau đớn
Hai người sau khi bỏ nhà ra đi họ đã đến một ngôi làng nằm nép dưới chân dãy núi Lang Trắng và chân núi Cột Cờ thuộc làng Tô, xã Cẩm Bình, huyện Cẩm Thủy cùng làm nương với đồng bào dân tộc Mường và hy vọng những vị thuốc Nam của bà con nơi đây sẽ chữa khỏi bệnh nan y. Đến năm 1970, khi Bệnh viện tỉnh Thanh Hóa cho thành lập khoa điều trị bệnh phong nằm ở làng Tô thì hai người xin chuyển vào trại phong rồi ở luôn trong đó.
Tại đây, hai cụ Nhung và Bòng đã trải qua những ngày tháng đau đớn nhất bởi sự tra tấn của quái bệnh mang tên “hủi”. Cụ Nhung đến nay vẫn chưa quên được nỗi ám ảnh rùng rợn của mấy chục năm trước. Lúc lên cơn ngứa, khắp cơ thể đều rất khó chịu, cụ có thể cảm nhận được từng tế bào trong cơ thể đang bị rỉa dần, vừa ngứa, đau, nhức, cụ gãi cho đến khi máu bắn tung tóe vẫn chưa thôi.
Một góc trại phong nằm dưới chân núi Cột Cờ. |
Vừa đến trại phong, cụ Nhung gặp cụ Bòng đang vật lộn với những cơn đau, ngứa cùng những vết loét ổ gà cứ ngày càng lan rộng trên cơ thể. Cụ Nhung lại giúp cụ Bòng đi mua cá mè về, rồi thái ra từng miếng bằng bốn ngón tay đắp vào chỗ ngứa, đó là bài thuốc được cho là hiệu quả nhất thời bấy giờ, vì người ta cho rằng, những “con hủi” luôn thèm chất tanh, nên đắp thịt cá mè vào để nhử chúng ra ăn cho đỡ ngứa.
Vào những hôm cả hai cụ đều lên cơn ngứa, có khi lại rủ nhau nhúng cả mười đầu ngón tay, ngón chân vào nồi nước sôi cho bõ. Sau những lần như thế, những đốt tay cứ long dần ra và rơi xuống, nhưng những cơn đau, ngứa như tra tấn vẫn không bớt đi trên cơ thể của hai người. Và rồi, những lúc như thế càng khiến họ thương nhau hơn, dựa vào nhau để vượt qua sóng gió cuộc đời.
Cụ Bòng cho biết: Lúc đó nhìn bà ấy đau đớn tôi thấy thương lắm, nước mắt cứ ứa ra mà chẳng biết làm thế nào, số phận đã đày đọa mình thế này thì cũng phải chịu chứ còn biết làm sao được nữa. Hai người thương nhau từ trong những cơn đau vật vã. Trong những lần chăm sóc vết thương cho nhau, hai người cảm nhận được tình cảm của nhau qua từng miếng cơm chen lẫn nước mắt. Vượt qua những mặc cảm cá nhân và sự ghẻ lạnh của người đời, hai người đã bàn nhau tổ chức một đám cưới nhỏ. Mọi người cùng cảnh ngộ trong trại góp cho hai cụ mỗi người một hai đồng, rồi họ nhờ người ra chợ mua được hai, ba con gà mang về thịt ra làm hai mâm cỗ để làm đám cưới.
Cụ Nhung còn nhớ đám cưới của mình chỉ có hơn chục người, tất cả đều là những người cùng cảnh ngộ sống trong trại, bố mẹ và anh em họ hàng hai bên đều không đến tham gia vì sợ lây bệnh.
Sau hôm đó, hai người tự tách riêng ra và sống chung với nhau dưới chân núi Cột Cờ, đến nay họ đã sinh được ba người con. Y sĩ Nguyễn Văn Việt là cán bộ công tác tại trại phong cho biết: Ông bà Nguyễn Thị Nhung và Hoàng Văn Bòng là đôi vợ chồng đầu tiên của trại cưới nhau. Thời gian trước khi y học chưa có thuốc điều trị hiệu quả bệnh phong hai người phải sống vất vả và đau đớn lắm, nhưng khi có thuốc mới dùng cho việc điều trị thì cuộc sống của hai người cũng khá hơn, họ có thể đi làm nương, rẫy tự lo cho cuộc sống của mình.
Bài và ảnh:Quách Thị Dung