Các vị cao niên đã từng sống thời Pháp thuộc hẳn còn nhớ mấy bài sau đây học hồi 6 - 7 tuổi, trong sách Quốc văn giáo khoa thư.
Bà ru cháu
Trưa mùa hè, trời nắng chang chang, gió im phăng phắc. Trong nhà, ngoài ngõ, vắng vẻ, tĩnh mịch. Ở một chái bên, bà ôm cháu vào lòng. Hai bà cháu nằm trên võng, đưa đi đưa lại, tiếng kêu kẽo cà kẽo kẹt, theo một điệu:
Bà cất tiếng hát, bà ru:
Yêu mến cha mẹ
- Cháu biết rồi, hôm nay thầy giáo mới dạy rằng: cha mẹ sinh ra con, nuôi cho con lớn, lại chăm cho con học, vậy kẻ làm con phải biết yêu cha mẹ (Lớp dự bị).
Ông tôi
Ông tôi năm nay đã ngoài 60 tuổi. Đầu râu tóc bạc, da đã nhăn, má đã lõm, lưng đã còng, đi đâu phải chống gậy.
Ông tôi không phải làm việc gì nặng nhọc nữa. Thường ở nhà coi sóc cho cha mẹ tôi và dạy bảo chúng tôi. Thỉnh thoảng lại kể chuyện cổ tích cho chúng tôi nghe, chúng tôi lấy làm thích lắm. Những khi đi học về, thường thường tôi lại đem những chuyện nhà trường nói cho ông tôi nghe. Ông tôi nhân đấy giảng giải cho tôi học được nhiều điều khác nữa (Lớp dự bị).
Vị trí và vai trò của "ông bà" như trên là do tính chất của nền văn hóa Việt. Hai nhà nhân học văn hóa Hofstede và E.Hall xếp các nền văn hóa thế giới làm hai loại: loại mang nặng dấu ấn cá thể (Tây Âu và Bắc Mỹ), loại được đặc trưng bởi ý thức cộng đồng (đặc biệt là châu Á). Văn hóa Việt thuộc loại thứ hai. Sở dĩ ý thức cộng đồng người Việt mạnh là vì nhiều lý do lịch sử: tinh thần dân tộc sớm hình thành ngay trong thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên do liên minh các bộ lạc phải đoàn kết chống thiên tai (lụt) và ngoại xâm - trong hai nghìn năm, Khổng học, một thứ triết học đạo đức và chính trị, tác động như một chất keo gắn bó dân tộc để chống ngoại xâm và xây dựng quốc gia. Trong khung cảnh văn minh lúa nước, cơ sở xã hội là xóm làng, làng xã gộp lại thành quốc gia. Cơ sở xóm làng là gia tộc, gia đình.
Trong một bản luận án nghiên cứu so sánh hiện tượng "sĩ diện" giữa hai nước theo Khổng học (Nhật Bản và Việt Nam), bà Higuchi đánh giá thứ tự quan trọng trong quan hệ xã hội của hai nước như sau:
Nhật Bản: 1) bạn bè. 2) gia đình. 3) quan hệ nơi làm việc.
Việt Nam: 1) gia đình. 2) bạn bè. 3) quan hệ nơi làm việc.
Điều này cho thấy mặc dù ngày nay đang bị suy thoái, gia đình ở ta vẫn còn là một giá trị văn hóa quan trọng trong bản sắc dân tộc. Điều chính có lẽ là do nó gắn với tâm linh, với thờ cúng tổ tiên. Người ông bao giờ cũng có nhiệm vụ khấn giỗ Tết, bảo ban về cưới xin tang lễ, việc làng, đặt tên cho con cháu, duy trì dòng họ. Thường thường, ông bà già ở với gia đình một con trai (nhất là con cả), dù nghèo, nhưng ít khi ở với gia đình con gái, vì gia đình ta thuộc phụ hệ. Trong nhà có gia phong, tiếng nói ông bà là quyết định. Tuổi già được kính trọng, trìu mến. Đến tuổi 50, con cháu đóng góp làm lễ "lên bô", "vào bô" trong làng và lễ "mừng thọ" trong nhà. Gia đình "tứ đại đồng đường", được coi là có "phúc ấm".
Ông bà là linh hồn của gia đình. Ông bà phải gương mẫu về các đức tính, về cách cư xử với nhau và với mọi con cháu, hòa thuận và khoan dung. Tùy khả năng và sức khỏe, ông bà đóng góp vào cộng đồng nhỏ: làm việc vặt, trông nhà, thổi cơm, chăm sóc, dạy học, vui chơi với các cháu... Ông bà là hạt nhân đoàn kết, góp phần giải quyết những mâu thuẫn giữa vợ chồng con cái. Gia đình truyền thống của ta không có "hố ngăn cách các thế hệ" (generation gap) như ở phương Tây, mà có tính liên tục hài hòa kính già yêu trẻ. Cho đến khi chết, ông bà vẫn gắn bó hữu cơ với tế bào gia đình. Và cả sau khi sang thế giới bên kia, qua hương hoa thờ cúng, vẫn trở về với con cháu. Đó là một nét bản sắc dân tộc.
"Bản sắc dân tộc là gì? Trả lời câu phỏng vấn ấy của anh Nguyễn Đắc Xuân (Hồn Việt, số 12/2008), thiền sư Thích Nhất Hạnh đáp: "Bản sắc văn hóa dân tộc có thể cảm nhận được, nhưng nói ra cho đầy đủ thì rất khó". Ông chỉ đưa ra một thí dụ cụ thể về bữa ăn Việt Nam ngày trước: đi ăn giỗ, không cần đến đúng giờ, ung dung đến lúc nào thì đến, không phải vất vả xe cộ sợ quá giờ như nay - bữa cơm gia đình có đủ mặt là một cơ hội tình cảm gắn bó, nay vì công nghiệp hóa khó giữ được. Thích Nhất Hạnh kết luận là xưa ta nghèo nhưng có nếp sống nhàn nhã, ấm tình người, tiền không mua được: "Văn hóa Việt Nam là một cái mỏ vàng", ta cần "tinh lọc cho được thứ vàng ròng" rồi thay đổi "cho hợp với nếp sống hiện đại".
Hữu Ngọc