Chuyện ít biết về xóm thuốc Phù Ninh

Thời sự
Từ thị trấn Yên Viên ngược hướng Bắc chừng hơn cây số nhìn sang bên phải thấy có biển chỉ dẫn đường Ninh Hiệp- con đường đi vào chợ vải. Đây là một chợ vải đầu mối nổi tiếng chuyên cung cấp vải cho cả miền Bắc,

Từ thị trấn Yên Viên ngược hướng Bắc chừng hơn cây số nhìn sang bên phải thấy có biển chỉ dẫn đường Ninh Hiệp- con đường đi vào chợ vải. Đây là một chợ vải đầu mối nổi tiếng chuyên cung cấp vải cho cả miền Bắc, miền Trung, thậm chí cho gần khắp nước. Nghĩ đến Ninh Hiệp là nghĩ ngay đến chợ vải, và cư dân ở đây toàn là những người buôn bán vải. Nhưng không hẳn như vậy. Có một góc trong không gian Ninh Hiệp - tên mới là xóm 8 tự nhiên biệt ra một nghề: làm thuốc Bắc thuốc Nam chữa bệnh cứu người...

Cả làng thơm nức hương vị thuốc

 Ông lang Viện.
 
Xóm 8 ban đầu có tên làng Ninh Giang. Làng này cùng với hai làng: Phù Ninh và Hiệp Phù được sáp nhập trong những năm 60 của thế kỷ XX thành xã Ninh Hiệp bây giờ. Cả xã chia làm 9 xóm. Làng Phù Ninh lớn nhất chia ra thành 7 xóm từ xóm nhất đến xóm 7. Còn lại Ninh Giang thành xóm 8 và Hiệp Phù thành xóm 9.

Xóm 8 này nằm ngay sát chợ vải. Đường vào xóm bây giờ toàn lát bê tông sạch sẽ. Chúng tôi đi trên đường lúc ấy vào quãng 10 giờ trưa mà khắp ngõ ngách đường làng chỗ nào cũng ngào ngạt hương vị của thảo dược. Dừng chân ghé vào gia đình bên cạnh đường, cổng đang để ngỏ. Vợ chồng chủ nhà khoảng ngoài ba mươi. Anh chồng đang cho chạy máy thái thuốc. Bây giờ không "Dao cầu thuyền tán" như ngày xưa nữa mà thái thuốc bằng máy gắn mô-tơ điện. Anh cho biết, nhà anh chỉ thái thuốc thuê. Hàng tháng nhận thuốc cây đã được phơi sấy khô về nhà rồi thái, thái xong có người đến lấy. Anh chị vẫn còn ít đất cấy lúa, thái thuốc chỉ tận dụng thời gian nông nhàn. Chị chủ nhà cho biết: "Xóm này đa số làm nghề thuốc. Nhưng không phải ai cũng biết bào chế. Nhà em chỉ có thái thuốc lấy công. Mỗi tháng cũng được quãng già 500 ngàn đồng, đủ rau dưa, đóng học cho con".

Anh chủ nhà cho biết, tuy cả xóm làm nghề thái thuốc và bào chế thuốc, nhưng cũng rất ít người làm nghề kê đơn bốc thuốc chữa bệnh cứu người. Hiện chỉ có ông Định, ông Đông là vừa bào chế vừa cắt thuốc chữa bệnh.

Được chỉ đường, tôi hỏi thăm đến nhà ông Lâm Tiến Đông. May quá, vợ chồng ông có nhà. Trong vai là người khách xa nghe tiếng lành đồn về tài chữa bệnh của ông chủ tiện ghé vào chơi, nên được ông đón tiếp rất niềm nở.

Chúng tôi ngồi trên chiếc chiếu giữa nhà, đây là nơi tiếp khách. Ngay gian bên cạnh xếp chồng đống hàng bọc nilông, bao tải các loại thuốc đã bào chế. Ông Đông kéo tôi vào trong xem phòng bắt mạch bốc thuốc. Cả một giá sách toàn sách chữ Hán. Ông cho biết, trước kia đi bộ đội, sau hết nghĩa vụ, về nhà quyết định đào sâu vào nghề thuốc. Ông bắt tay vào học tiếng Hán cổ, tiếng Trung hiện đại. Khi tương đối thạo, ông mua sách thuốc của người Trung Quốc để đọc và học các bài thuốc của họ.

Tôi hỏi ông rằng khi sao tẩm thuốc, ông có cho chất lưu huỳnh vào để chống mốc không, thì ông sôi nổi trả lời: "Tôi xin thưa với anh là lâu nay nhiều người phê phán sử dụng lưu huỳnh trong bảo quản dược liệu là chưa đúng. Tôi xin khẳng định từ xưa tới nay, trong bảo quản dược liệu đều sử dụng chất lưu huỳnh để xông. Nhưng có 2 điểm đáng lưu ý: thứ nhất, liều lượng cần vừa đủ, đừng ít quá thì thuốc dễ mốc, đừng nhiều quá sẽ trở nên độc hại; thứ hai, chất lưu huỳnh gặp hơi nóng khi sao tẩm đã bay hơi đi khá nhiều, sau đó lại đem sắc nữa, thì lúc ấy chất lưu huỳnh đã bay hơi hết rồi". Tôi hỏi: "Có người mua thuốc về đã cẩn thận rửa trước khi đem sắc. Ông thấy thế nào?". Ông mau mắn trả lời: "Làm thế thuốc mất hết vị thì còn tác dụng gì nữa! Lúc sao tẩm, thí dụ vị chủ chữa thận thì phải dùng muối, vị chủ chữa gan thì phải có giấm, có những vị phải dùng "đồng tiện" (nước tiểu trẻ em)... Nếu rửa đi thì chất thuốc sẽ biến tính hết". Thì ra là thế. Cái việc rửa thuốc như trên là chính từ chuyện của tôi, do tôi nghĩ ra đấy chứ. Chả là có lần xem trên tivi, thấy phê phán sao tẩm chất lưu huỳnh ghê quá, nên tôi mới bày cho u tôi ở quê cái cách ấy. Chẳng biết có phản tác dụng ghê gớm như lời ông Đông vừa nói không? Nhưng mà hình như ông có lý...

Tôi cũng gặp ông trưởng thôn Lâm Văn Thôn, ông cho biết: Xóm này có 412 hộ, thì có đến hàng mấy trăm gia đình làm nghề bào chế thuốc, từ công đoạn nhập thô, thái, sao tẩm, bảo quản, đóng gói. Cả làng hầu như không có ai làm nghề buôn bán vải. Lạ thế! Trong khi đó xóm 6 thì... ngược lại!

Bà tổ nghề thuốc

Chuyện kể rằng, từ thời nhà Lý, bà tổ nghề là người gốc xứ Thanh có tài trị bệnh cứu người. Bà thường đi khắp các vùng trong cả nước hễ thấy ai bị bệnh hiểm nghèo thì đều ra tay làm phúc. Một hôm đến vùng Đông Ngàn thuộc đất Kinh Bắc, nơi đây hầu như toàn là rừng rậm, tự nhiên thấy một con hổ bị thương đang rên rỉ nằm chờ chết, bà liền lấy thứ lá nhai dập rồi rịt vào vết thương. Chẳng mấy chốc con hổ hết đau, đứng dậy rồi nằm phủ phục vái bà ba lần. Từ đó trở đi, bà đi đâu, vào bất cứ nơi rừng sâu nào để kiếm lá thuốc đều được con hổ che chở, giúp đỡ. Sau này, tuổi đã cao, bà chọn làng Phù Ninh (xóm 6 bây giờ) làm nơi định cư, mở lớp truyền nghề thuốc chữa bệnh cho bà con nơi đây và bà con Ninh Giang (xóm 8). Khi bà mất, dân làng hai nơi coi bà là tổ nghề thầy thuốc, bèn tạc tượng, lập đền thờ bà mang tên Điếm Kiều tại vị trí xóm 6 bây giờ. Nơi đây có khắc dòng chữ: "Lý nhũ thái mẫu dược sư thần linh" để đời đời hương khói nhớ ơn bà.

 Điếm Kiều thờ bà tổ nghề thuốc.
 
Theo như các cụ cao niên trong làng kể: mỗi khi vào ngày giỗ bà tổ nghề thì bên Ninh Giang phải mang lễ sang Phù Ninh để góp lễ. Thế rồi trong chuyện đi lại giữa hai làng cũng có khi ấm khi lạnh, nên các cụ làng Ninh Giang bèn thưa chuyện với các cụ bên Phù Ninh cho rước bài vị về bên Ninh Giang để thờ. Chuyện này tương truyền có từ thế kỷ XVI.

Từ bấy trở đi, bà tổ nghề thuốc này có hai điếm thờ. Tuy nhiên, tại xóm 6 bây giờ vẫn còn giữ được cái điếm thờ gốc đó (mới được trùng tu), còn bên xóm 8 thì cái điếm ấy đã không còn từ những năm 80 của thế kỷ XX. Hiện giờ bài vị thờ bà tổ đã được rước vào thờ trong đình làng, đặt gian bên cạnh gian chính thờ thành hoàng làng.

Khi tôi đến thăm Điếm Kiều ở xóm 6 vào lúc cuối chiều, thật tiếc, lớp học chữ Hán do các cụ tổ chức miễn phí vừa tan. Vào thăm hiệu thuốc gia truyền có tiếng của cụ Viện mà dân gian vẫn gọi là ông lang Nành (làng Nành). Cụ năm nay 82 tuổi, râu tóc bạc phơ, vẫn hoàn toàn minh mẫn, sáng láng. Trò chuyện với cụ, được biết bên xóm 6 đã duy trì lớp học chữ Hán này được hơn chục năm nay, ai muốn đến học cũng được, các cụ dạy miễn phí. Mấy năm trước có cụ Hải lương y nổi tiếng, cụ Quýnh, cụ Thực đứng ra dạy chữ Hán; bây giờ chỉ có cụ Hoàng Đình Giá và anh Lý Xuân Cẩn thông thạo chữ Hán đứng ra dạy cho lớp học này. Cụ Viện cho biết, cái anh Đông y với Nho học có quan hệ với nhau nhiều lắm. Biết chữ Hán thì mới có thể bổ túc được các tri thức sâu rộng về y học cổ truyền phương Đông đồ sộ và tinh xảo.

Trước khi chúng tôi ra về cụ Viện còn cho biết, đời trước đã có hai danh y nổi tiếng người làng giỏi nghề thuốc được vào làm ngự y chữa bệnh cho vua: Chánh ngự y Nguyễn Tán (1817-1880), Phó ngự y Nguyễn Khắc Hoạt (1838-1903). Thế ra, tuy bên xóm 6 không nhiều người theo nghề Đông y nữa, nhưng các cụ trong làng vẫn cố gắng gìn giữ cái học phong căn bản đã trở thành truyên thống lâu đời của làng.

Thuần Vũ


Ý kiến của bạn