Chuyên gia nhận định từ thảm họa ở Nepal đến cảnh báo cho Việt Nam

Xã hội
SKĐS - Các nhà khoa học cảnh báo: thảm họa có thể xảy ra khi nguy cơ đã bị lãng quên hoặc chưa từng được biết đến.

Từ đá và băng rơi đến lũ bùn đá

Chiều 10/9, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức Hội thảo khoa học "Thảm họa sạt trượt, lũ quét Rasuwa (Nepal) tháng 8 năm 2026: Nguyên nhân và bài học kinh nghiệm".

Thảm họa xảy ra tại Rasuwa, Nepal ngày 26/8/2026 cho thấy một hiện tượng thiên tai ban đầu có thể kéo theo hàng loạt quá trình nguy hiểm khác. Từ đá và băng rơi, sạt lở hàng loạt đến lũ bùn đá, lũ quét và sự hình thành đập tạm, các hiện tượng nối tiếp nhau tạo thành một chuỗi thiên tai phức tạp.

Đây cũng là nội dung được các nhà khoa học Việt Nam phân tích trong chuyên đề "Phân tích chuỗi thảm họa thiên tai ngày 26/8/2026 tại Rasuwa, Nepal và một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam" của GS.TS Đỗ Minh Đức và TS Đặng Quang Khang, Bộ môn Địa kỹ thuật và Địa chất môi trường, Khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Video lũ quét kinh hoàng ở Nepal. Nguồn: CCTV

Theo phân tích của nhóm nghiên cứu, chuỗi thiên tai tại Rasuwa bắt đầu từ đá và băng rơi. Một trận động đất có độ lớn M5,2 được ghi nhận lúc 2h52 phút 10 giây ngày 26/8/2026, tại tọa độ 28,271 độ vĩ Bắc và 85,515 độ kinh Đông, độ sâu ghi nhận là 0 km.

Khối đá rơi tự do khoảng 1,2 km, với vận tốc khi chạm đáy khoảng 153 m/s. Năng lượng tương ứng của trận động đất M5,2 được ước tính khoảng 952 tấn TNT. Đáng chú ý, khối lượng băng đá liên quan đến quá trình này được ước tính khoảng 150 triệu m³. Trong đó, băng thường chiếm khoảng 20-30% thể tích. Khối sạt trượt lớn sau đó gây địa chấn M5,2 và dẫn đến hiện tượng sạt lở băng đá hàng loạt.

Điểm đáng chú ý của thảm họa không nằm ở một hiện tượng đơn lẻ mà ở sự nối tiếp của nhiều quá trình địa chất và thủy văn.

Nhóm nghiên cứu mô tả chuỗi diễn biến gồm: đá và băng rơi; năng lượng của khối đá, băng rơi tác động đến khu vực hoạt động của băng; nhiều khối trượt sạt lở đồng thời; động năng chuyển hóa thành dòng lũ bùn đá; lũ bùn đá, lũ quét tràn vào sông Trishuli; sau đó xảy ra trận động đất thứ hai M4,2 và hình thành đập tạm.

Chuyên gia nhận định từ thảm họa ở Nepal đến cảnh báo cho Việt Nam- Ảnh 1.

GS.TS Đỗ Minh Đức, Khoa Địa chất, Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội.

Như vậy, một quá trình ban đầu có thể trở thành tác nhân kích hoạt các quá trình tiếp theo, khiến mức độ nguy hiểm gia tăng và phạm vi tác động mở rộng.

GS.TS Đỗ Minh Đức cho biết, một trong những vấn đề đáng quan tâm được đặt ra từ trường hợp Rasuwa là sự chuyển hóa giữa các loại hình thiên tai. Khi các khối đá, băng và đất đá lớn trượt xuống, động năng của khối vật chất có thể chuyển hóa thành dòng lũ bùn đá. Dòng vật chất này tiếp tục di chuyển xuống hạ lưu, kết hợp với nước và địa hình dòng chảy để hình thành lũ bùn đá, lũ quét.

Điều này khiến công tác cảnh báo và ứng phó trở nên phức tạp hơn. Nếu chỉ theo dõi một loại hình thiên tai riêng biệt, nguy cơ xuất hiện các hiện tượng tiếp nối có thể không được nhận diện đầy đủ.

Từ trường hợp Nepal, nhóm nghiên cứu của GS Đỗ Minh Đức đặt ra câu hỏi liệu những thảm họa tương tự có tiếp tục xảy ra trong tương lai hay không, đồng thời xem xét cả những thành công và thất bại trong ứng phó với thảm họa.

Làng Nủ, Mường Than không phải là cá biệt

Theo nhóm nghiên cứu, những vấn đề được đặt ra từ thảm họa tại Nepal có ý nghĩa đối với Việt Nam, đặc biệt ở các khu vực miền núi. Nhóm nghiên cứu dẫn các trường hợp sạt lở tại Việt Nam, trong đó có Nậm Lúc, Lào Cai; Làng Nủ và khu vực phụ cận; Mường Than, Lai Châu cùng một số điểm sạt trượt khác.

Tại Nậm Lúc, nhóm nghiên cứu ghi nhận khối trượt lớn trong bão Yagi đã lấp ngang dòng sông Chảy, gây ngập cầu và đường.

Chuyên gia nhận định từ thảm họa ở Nepal đến cảnh báo cho Việt Nam- Ảnh 2.

Lũ quét Mương Than gây hậu quả nghiêm trọng. Ảnh: PV

Một ví dụ khác được đưa ra là tuyến Quốc lộ 24C, Trà Giang. Nhóm nghiên cứu sử dụng 498 bức ảnh UAV trên tổng diện tích 0,41 km²; chiều cao bay trung bình 80,4 m và độ phân giải mặt đất đạt 3,09 cm/pixel. Khối trượt được mô tả có thể tích tới 300.000 m³, chiều cao 110 m và rộng 300 m.

Từ những trường hợp được phân tích, nhóm nghiên cứu nhận định các khu vực có điều kiện địa hình, địa chất và đặc điểm phân bố dân cư tương tự Làng Nủ, Mường Than không phải trường hợp cá biệt mà khá phổ biến ở khu vực miền núi Việt Nam.

Đây là yếu tố khiến nguy cơ nghẽn dòng cần được đặc biệt lưu ý.

Khi đất đá từ sườn dốc trượt xuống lòng suối, sông, dòng chảy có thể bị cản trở. Tài liệu cảnh báo các khu vực có nguy cơ cao về trượt quy mô lớn và nghẽn dòng, trong khi dân cư lại phân bố trên địa hình thấp ven suối.

Nhóm nghiên cứu đưa ra một cảnh báo đáng chú ý: thảm họa có thể xảy ra khi nguy cơ đã bị lãng quên hoặc chưa từng được biết đến.

Một trong những vấn đề được nhóm nghiên cứu đặt ra là hệ thống giám sát, cảnh báo sớm hiện chưa phù hợp với loại hình đa thiên tai. Bên cạnh đó là vấn đề vị trí xây dựng các công trình và yêu cầu ứng phó khi xuất hiện hoạt động địa chấn.

Đối với Việt Nam, nhóm nghiên cứu cho rằng mưa là yếu tố chủ yếu kích hoạt trượt lở. Vì vậy, hệ thống quan trắc mưa hiện tại cần có mật độ cao hơn để phát hiện sớm những trận mưa lớn cực đoan. Tuy nhiên, quan trắc mưa không phải giải pháp duy nhất.

Nhóm nghiên cứu đề xuất các hệ thống quan trắc chuyên sâu về ổn định mái dốc, đồng thời nâng cao độ chính xác dự báo thông qua phân tích dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo.

Cùng với công nghệ, yếu tố con người vẫn giữ vai trò quan trọng. Thông tin cảnh báo sớm cần được truyền đạt để chính quyền các cấp, đặc biệt là người dân trong vùng có nguy cơ, có thể nắm bắt thông tin kịp thời, chính xác và hiểu rõ hành động cần triển khai khi có yêu cầu.

IoT, AI và dữ liệu lớn được đề xuất để giám sát đa thiên tai

Một hướng tiếp cận được nhóm nghiên cứu đưa ra là sử dụng công cụ IoT, dữ liệu lớn để chủ động ứng phó với sạt trượt và lũ quét. Nhóm nghiên cứu đề xuất xây dựng hệ thống tích hợp giám sát và cảnh báo sớm quá trình hình thành, phát triển của các hiện tượng đa thiên tai quy mô lớn trên cơ sở ứng dụng IoT, AI và dữ liệu lớn.

GS.TS Đỗ Minh Đức cho biết, cách tiếp cận này hướng tới việc không chỉ phát hiện một hiện tượng riêng lẻ mà theo dõi mối liên hệ giữa nhiều quá trình có thể xảy ra liên tiếp.

Chuyên gia nhận định từ thảm họa ở Nepal đến cảnh báo cho Việt Nam- Ảnh 3.

Nhóm nghiên cứu đề xuất xây dựng hệ thống tích hợp giám sát và cảnh báo sớm quá trình hình thành, phát triển của các hiện tượng đa thiên tai quy mô lớn trên cơ sở ứng dụng IoT, AI và dữ liệu lớn. Ảnh: PV

Bên cạnh công nghệ, nhóm nghiên cứu cũng nhấn mạnh yêu cầu xác lập các mô hình khu tập trung dân cư an toàn trên đất dốc, phù hợp với điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của từng địa phương, từng khu vực. Đặc biệt, cần quan tâm đến tác động của đa thiên tai quy mô lớn đối với sự ổn định của các công trình thủy lợi, thủy điện quy mô nhỏ.

Để phòng ngừa thiệt hại do thiên tai, GS.TS Đỗ Minh Đức cho biết, khi rủi ro trượt lở đạt mức rủi ro cấp 1 theo quy định của Chính phủ, chính quyền địa phương cần hạn chế người và phương tiện lưu thông gần các khu vực có nguy cơ cao.

Khi rủi ro đạt cấp 2 và cao hơn, cần cấm phương tiện lưu thông qua các khu vực nguy cơ cao; di chuyển người dân trong khu vực nguy cơ cao đến nơi an toàn và chỉ cho phép quay trở lại khi không còn cảnh báo nguy cơ trượt lở.

Nhóm nghiên cứu đồng thời đề xuất phát huy vai trò của cán bộ cơ sở tại xã, thôn và các tổ, đội xung kích phòng tránh thiên tai. Đây là lực lượng có thể tham gia phát hiện sớm các dấu hiệu trượt lở, lũ quét và hỗ trợ triển khai ứng phó tại địa bàn. Chính quyền và người dân cần chú ý tới tính bất thường, cực đoan của thời tiết trong bối cảnh biến đổi khí hậu và chuẩn bị các kịch bản ứng phó với những tình huống khó khăn nhất.

Ở nhóm giải pháp trung hạn, nhóm nghiên cứu đề xuất ưu tiên bảo đảm an toàn cho các khu vực tập trung dân cư. Một vấn đề khác là kiểm soát tác động tiêu cực của nước mưa và nước mặt. Theo đó, cần thu, thoát nước mưa và nước mặt nhằm giảm tác động của các hoạt động nhân sinh lên đất dốc; trong một số trường hợp cần có cả giải pháp thoát nước ngầm.

Đối với hoạt động xây dựng, nhóm nghiên cứu đề xuất xây dựng quy trình, hướng dẫn và kiểm soát chặt chẽ việc xây dựng các công trình dân dụng, giao thông, thủy lợi, thủy điện... trong vùng có nguy cơ trượt lở, đồng thời tính đến các hiện tượng thiên tai cực đoan trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

Về dài hạn, nhóm nghiên cứu đề xuất xây dựng quy hoạch chiến lược phát triển tổng thể các vùng đất dốc, qua đó chuyển từ tư duy ứng phó thiên tai sang quản trị rủi ro thiên tai. Song song với đó là tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trong các ngành Khoa học Trái đất.

Những đề xuất này đặt trọng tâm vào việc nhận diện rủi ro trước khi thảm họa xảy ra, thay vì chỉ tập trung xử lý hậu quả.

"Từ trường hợp Rasuwa, vấn đề được đặt ra không chỉ là làm thế nào để cảnh báo một trận sạt lở hay một trận lũ quét, mà còn là làm thế nào để nhận diện được chuỗi thiên tai có thể nối tiếp sau đó. Với những khu vực miền núi có địa hình dốc, dân cư sống gần sông, suối và các công trình nằm trong vùng có nguy cơ, việc nhận diện nguy cơ trượt lở quy mô lớn, nghẽn dòng và các hiện tượng tiếp nối là một phần quan trọng của quản trị rủi ro thiên tai", GS.TS Đỗ Minh Đức cho biết.

Theo nhóm nghiên cứu, mục tiêu cuối cùng là xây dựng các khu dân cư an toàn trên đất dốc, tăng khả năng giám sát và cảnh báo sớm, đồng thời ứng dụng IoT, AI và dữ liệu lớn để tích hợp thông tin về các hiện tượng đa thiên tai.

Chuyên gia nhận định từ thảm họa ở Nepal đến cảnh báo cho Việt Nam- Ảnh 4.Biển Đông sắp đón áp thấp nhiệt đới, cảnh báo đa thiên tai

SKĐS - Ngoài không khí lạnh bắt đầu ảnh hưởng từ ngày 9/9, trên Biển Đông đang hình thành dải hội tụ nhiệt đới.

Ý kiến của bạn
Tags: