Chuyện bên dòng Cà Tang

29-08-2008 11:05 | Thời sự
google news

Dòng sông Gianh lịch sử một nhánh bắt nguồn từ rặng núi Giăng Màn, thuộc địa phận huyện Tuyên Hoá, chảy suốt đất Quảng Bình đổ ra biển, phía thượng nguồn có tên gọi Cà Tang. Cà Tang len lỏi qua những cánh rừng già Trường Sơn ngút ngàn,

Dòng sông Gianh lịch sử một nhánh bắt nguồn từ rặng núi Giăng Màn, thuộc địa phận huyện Tuyên Hoá, chảy suốt đất Quảng Bình đổ ra biển, phía thượng nguồn có tên gọi Cà Tang. Cà Tang len lỏi qua những cánh rừng già Trường Sơn ngút ngàn, là địa bàn cư trú của người Mã Liềng, một tộc người thuộc nhóm dân tộc Chứt. Từ lâu, tên gọi Mã Liềng cùng với nhiều cộng đồng anh em khác cùng sinh sống ở khu vực miền núi phía Tây của tỉnh Quảng Bình như Mày, Rục, Sách, A Rem, U Mo... nghe có vẻ gì đó thật xa xăm, ảo não. Đa dạng về tên gọi, tập quán; về số lượng; và phân tán về địa bàn cư trú chính là những nguyên nhân khiến cho những cộng đồng này trở nên xa lạ với khá nhiều người trong suốt một thời gian dài...

 Trẻ em Mã Liềng biểu diễn văn nghệ.
 
Cuối tháng 7, Trường Sơn vẫn đang là mùa mưa. Có được một vài ngày nắng ráo để rong ruổi miền Trung phải chăng cũng là một cơ duyên. Trước khi lên xe về thăm bản Kè, một bản Mã Liềng thuộc xã Lâm Hóa, huyện Tuyên Hóa (Quảng Bình), Nguyễn Trung Kiên, một cán bộ của Trung tâm Nghiên cứu kiến thức bản địa và Phát triển (CIRD), đưa cho tôi tập tài liệu dày cộp, nói: - "Anh xem qua đi. Đã bắt đầu thấy rõ hiệu quả cùng với tính ưu việt của nó rồi đấy!". Nhìn qua thì đó là bản luận chứng của chương trình bảo tồn sinh thái nhân văn tộc người Mã Liềng ở Việt Nam, do CIRD (thuộc Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam), cùng với UBND huyện Tuyên Hóa (Quảng Bình) xây dựng và tổ chức thực hiện tại đây từ năm 1999 đến nay. Vẫn biết rằng mấy "ông" dân khoa học, hơn nữa lại quen tác phong làm việc rất "Tây" này vốn là chúa cẩn thận, nên tay nhận tài liệu, nhưng lòng vẫn có chút gì lơ đễnh. Nghĩ bụng: Ôi dào, thủ tục ấy mà!.. Vậy mà rồi không ngờ rằng ngay từ những trang đầu tiên, trong cách đặt vấn đề, bản luận chứng đã có một sức hấp dẫn và thuyết phục đến như vậy, mặc dù với tôi, đây không phải là lần đầu tiên đến với người Mã Liềng...

Những nghịch lý bảo tồn

Con người, văn hóa bản địa và thiên nhiên vốn dĩ là một mối quan hệ gắn bó mật thiết. Cái chân lý muôn thuở ấy từ lâu đã quen thuộc đến trở thành đơn giản, đến nỗi người ta có thể mặc nhiên "quên bẵng" nó đi trong những suy nghĩ hàng ngày. Chính vì vậy mà cho tới hôm nay, có một nghịch lý đang tồn tại như một nguy cơ mà hầu như không mấy ai buồn nhận ra; đó là hiện tượng các mô hình khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, du lịch sinh thái... đang được hình thành ngày càng nhiều ở hầu hết các tỉnh miền núi trên phạm vi cả nước. Thoạt nghe tưởng là điều đáng mừng, vì có vẻ gì đó như là thiên nhiên đang ngày càng được chăm lo, ưu ái... Nhưng liệu đã bao giờ có ai nghĩ tới điều này chưa nhỉ, rằng khi những khu bảo tồn như vậy mở ra càng nhiều, thì cũng có nghĩa là rừng tự nhiên đang ngày một bé lại, đang ngày một nghèo đi... Cũng giống như khi những trang sách đỏ ngày càng dày thêm, thì cũng đồng nghĩa với việc càng có thêm nhiều loài thú đứng trước nguy cơ tuyệt chủng... Mối quan hệ giữa con người và văn hoá bản địa với thiên nhiên nói trên vì thế cũng đang dần dần có sự thay đổi. Chật chội hơn, căng thẳng hơn, khắt khe hơn, mà không phải giải pháp ứng xử nào cũng đem lại kết quả như mong muốn...

Quảng Bình vốn là mảnh đất hẹp, hẹp nhất trên toàn bộ rẻo đất Việt Nam này. Chiều ngang có chỗ chỉ trên 50 km, tính từ dãy Trường Sơn ra đến biển. Ấy vậy mà cũng phải đến khi con đường Hồ Chí Minh được khai thông, khu vực miền núi phía Tây ở đây mới bắt đầu được tiếp xúc phần nào với những gì gọi là "nhịp sống hiện đại" từ lâu vốn đã trở nên quá quen thuộc với người thành thị... Ấy là nói chung thế, chứ còn ở bản Kè thì vẫn phải muộn hơn một chút. Nằm cách đường Hồ Chí Minh khoảng hơn 1 km, bên kia sông Cà Tang, kẹp giữa vùng đệm của hai khu bảo tồn thiên nhiên lớn của miền Trung là Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình) và Vụ Quang (Hà Tĩnh).

Đón chúng tôi tận bên này sông, già làng Cao Điện, một trong 7 người thuộc Hội đồng già làng bản Kè hiện nay, cười tươi như gặp người quen cũ. Cảm nhận đầu tiên: Nhiệt tình, mến khách, ấy là truyền thống muôn xưa của người Mã Liềng; còn thái độ tự tin và tâm thế hòa nhập lại chính là nét mới của người dân bản Kè mà già Cao Điện là đại diện. Sông Cà Tang không rộng, nhưng mùa này chảy xiết. Con thuyền độc mộc, phương tiện vượt sông duy nhất của bản, phải qua lại 2 chuyến mới đưa hết cả chủ lẫn khách về tới "nhà".

“Bài học làm nhà” và triết lý “cần câu-con cá”

Bản Kè hiện tại có 42 hộ với 156 nhân khẩu. Đây là con số mới được bổ sung thêm trong 2 năm trở lại đây, do có thêm một số người ở các bản lân cận mới xin về đây cư trú. Còn khi dự án mới bắt đầu triển khai, mà cụ thể là khi tiến hành khảo sát để thực hiện chương trình "Ngói hoá" (tháng 10 năm 2003) thì bản Kè mới chỉ có 32 nóc nhà. 14 ngôi nhà trong số đó nay đã được xây dựng lại theo đúng phong cách truyền thống của người Mã Liềng: Nhà sàn bằng gỗ, 2 cầu thang, bên trong có buồng cùng các cột gỗ được dựng theo thứ tự với những quy ước ngặt nghèo riêng, và đặc biệt là rất nhiều cửa...

 Ngày nay nhiều nhà to, đẹp của người Mã Liềng đã mọc lên.
 
Chương trình "Ngói hoá" ở bản Kè không đơn giản chỉ là một sự đầu tư về kinh tế. Việc xây dựng nhà ở đây thực sự đã trở thành một chương trình đào tạo về nghề và kỹ năng tổ chức lao động tập thể cho bà con. Với 28 thanh niên là lực lượng lao động chính của bản, theo hướng dẫn của các cán bộ dự án, đã hình thành nên các tổ chuyên môn theo sở thích của mỗi người: tổ khai thác gỗ, tổ làm mộc, tổ dựng nhà... làm việc một cách chuyên nghiệp và tự giác. Phụ nữ trong bản thì chuyên lo cơm nước, những người khác lo vận chuyển nguyên vật liệu... Cứ thế mỗi người một chân một tay, tự người dân bản Kè đã lần lượt dựng lên những ngôi nhà cho các đối tượng đã được Hội đồng già làng của bản lựa chọn theo đúng phong tục truyền thống. Vậy là từ những người nông dân xưa nay chỉ quen với tập quán làm nương rẫy một cách nhỏ lẻ và tự phát, thông qua việc làm nhà, người dân bản Kè đã biết thêm một số nghề khác để phục vụ đời sống như nghề mộc, nghề thủ công... Nhưng điều quan trọng hơn cả, thành công hơn cả, chính là từ những việc làm cụ thể đó đã tạo được cho bà con ở đây một tư duy mới về lao động, một biểu hiện hết sức rõ nét của triết lý về chiếc cần câu hay con cá trong việc phát triển cộng đồng một cách bền vững...

* * *

Bây giờ thì có thể không ngại ngần gì khi gọi người dân bản Kè bằng từ nông dân nữa rồi. Những người nông dân Quảng Bình đã gặp gỡ nhau, đã dìu dắt nhau trên con đường làm ăn để cùng hướng tới một tương lai tốt đẹp. Đất lành thì chim sẽ về đậu. Bản Kè giờ đây không chỉ có người Mã Liềng ở các bản lân cận tìm về sinh sống, mà đã có thêm cả những cô dâu mới là người Kinh theo chồng về xây tổ ấm. Trên "cánh đồng" bản Kè, anh nông dân Cao Đói cùng cô vợ người Kinh Nguyễn Thị Thuỷ đang cặm cụi be bờ, tháo nước thực sự đã làm nên một hình ảnh đầy ấn tượng. Tên Đói mà nụ cười thì lại thật tươi... Có thể nghĩ rằng đó là nụ cười vì lấy được vợ đảm, hay cười vì cái đói đã lùi thật xa...

Đêm ấy, trong cuộc giao lưu giữa chúng tôi với nhóm thanh niên tình nguyện xã Lâm Trạch và bà con bản Kè tại Nhà văn hoá cộng đồng của bản, Nghe Cao Nhung, một thanh niên bản Kè hát Cà Tang càn càn, một bài hát Mã Liềng da diết đến nao lòng: Ông (dòng sông) ơi, trời không mưa nữa, hạt lúa trên nương cũng hết rồi, ta lên rừng tìm bắp ngô mà ăn thôi... Trời không mưa nữa... ta lên rừng tìm củ sắn mà ăn thôi... Bao nhiêu đời nay điệu hát ấy đã đeo đẳng người Mã Liềng cùng những chuyến du cư bất tận. Đêm nay điệu hát cất lên ai oán như nhắc về một kỷ niệm buồn. Vâng, thật buồn! Nhưng tôi lại nghĩ khi người ta còn biết nhắc về những kỷ niệm buồn, thì cũng có nghĩa là người ta đã biết sống tốt hơn...

"Người dân bản Kè chỉ còn mong có điện, và thêm cây cầu qua sông này nữa là đủ". Già Cao Điện nói trong tiếng mái chèo khoả nước khi tiễn chúng tôi qua dòng Cà Tang. Già Điện ơi, già chẳng nói thì chúng tôi cũng đã nhận ra điều ấy. Để già phải lặn lội đưa rước thế này, cảm cái tình thật đấy, nhưng cũng ái ngại vô chừng. Một cây cầu và một đường dây điện, không quá lớn để phải đằng đẵng khát khao, nhưng cũng chẳng nhỏ đến mức hễ cứ muốn là có ngay được. Tôi cũng hiểu ý già không đòi hỏi vậy, nhưng rõ ràng đó là việc phải làm. Sẽ không lâu nữa đâu, một khi tất cả chúng ta đều đã nhìn thấy điều cần thiết đó. Xin già và người dân bản Kè hãy cứ vững tâm mà tin như thế...

Bài và ảnh: Ngọc Lương


Ý kiến của bạn