Theo Quyết định 1528/QĐ-TTg, phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo là nhiệm vụ quốc gia mang tính chiến lược, cấp bách, gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Quan điểm phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo
1. Phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo là nhiệm vụ quốc gia mang tính chiến lược, cấp bách, gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy hình thành lực lượng lao động số góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và mục tiêu tăng trưởng kinh tế "2 con số" giai đoạn 2026 - 2030.
2. Phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo theo hướng toàn diện, đào tạo 03 tầng nhân lực:
Tầng phổ cập nhằm trang bị kiến thức và kỹ năng ứng dụng trí tuệ nhân tạo an toàn, hiệu quả trong học tập, làm việc, sinh sống;
Tầng ứng dụng nhằm đào tạo nhân lực các ngành, lĩnh vực có năng lực tích hợp, ứng dụng hiệu quả trí tuệ nhân tạo, đáp ứng yêu cầu của các vị trí việc làm theo các ngành nghề khác nhau;
Tầng chuyên sâu nhằm đào tạo đội ngũ nhà khoa học, kỹ sư, chuyên gia và giảng viên có năng lực nghiên cứu, phát triển, làm chủ, triển khai và quản trị các hệ thống, nền tảng trí tuệ nhân tạo.
3. Phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo theo hướng tiếp cận năng lực, chuẩn hóa, tham chiếu các chuẩn mực quốc tế và phù hợp với điều kiện Việt Nam.
4. Phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo phải gắn với yêu cầu phát triển, triển khai và quản trị trí tuệ nhân tạo an toàn, tin cậy, minh bạch, có trách nhiệm và quản trị rủi ro; bảo đảm chủ quyền dữ liệu, an toàn hệ thống, an ninh mạng, bảo vệ bí mật Nhà nước; tuân thủ pháp luật, chuẩn mực đạo đức và trách nhiệm xã hội.
5. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt và điều phối; thúc đẩy hợp tác công - tư, giữa Nhà nước, cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu và doanh nghiệp trong đào tạo, nghiên cứu và phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo; kết hợp thu hút, đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại và và sử dụng hiệu quả nhân lực về trí tuệ nhân tạo; phát triển hệ sinh thái nhân lực trí tuệ nhân tạo gắn với phát triển các ngành công nghệ chiến lược, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, xã hội số.
Mục tiêu phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo
Phát triển đội ngũ nhân lực trí tuệ nhân tạo có quy mô, cơ cấu và chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành công nghệ chiến lược, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, xã hội số; đưa năng lực sử dụng và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trở thành một trong những năng lực thiết yếu của người học, người lao động, đội ngũ cán bộ quản lý, quản trị; phát triển đội ngũ nhân lực trình độ cao, chuyên sâu có năng lực nghiên cứu, phát triển, làm chủ, triển khai và quản trị các hệ thống trí tuệ nhân tạo an toàn, tin cậy và có trách nhiệm; hướng tới đưa Việt Nam trở thành quốc gia có năng lực phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo thuộc nhóm hàng đầu trong khu vực, góp phần nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia và bảo đảm lợi ích quốc gia trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo.
Mục tiêu phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo đến năm 2030
a) Phổ cập kiến thức, kỹ năng và năng lực sử dụng trí tuệ nhân tạo an toàn, hiệu quả cho người học, người lao động, đội ngũ cán bộ quản lý, quản trị:
- Ít nhất 80% học sinh phổ thông, học sinh dự bị đại học được phổ cập kiến thức, kỹ năng cơ bản về trí tuệ nhân tạo phù hợp lứa tuổi; gắn với phát triển tư duy số, tư duy tính toán, đạo đức trong sử dụng trí tuệ nhân tạo và năng lực sử dụng trí tuệ nhân tạo an toàn, có trách nhiệm.
- Phấn đấu 100% người học trong các cơ sở giáo dục đại học và ít nhất 80% người học trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp được trang bị kiến thức, kỹ năng cơ bản về trí tuệ nhân tạo, đạo đức và an toàn dữ liệu; có năng lực sử dụng, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong học tập, nghiên cứu và hoạt động nghề nghiệp một cách an toàn, hiệu quả và có trách nhiệm.
- Ít nhất 90% cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong đơn vị sự nghiệp công lập, 100% cán bộ, công chức, viên chức, người lao động lĩnh vực giáo dục và đào tạo được bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng về trí tuệ nhân tạo, có năng lực sử dụng, ứng dụng trí tuệ nhân tạo an toàn, hiệu quả và có trách nhiệm trong hoạt động nghề nghiệp, quản lý và quản trị, trong đó: tối thiểu 100.000 giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục được bồi dưỡng chuyên sâu, có khả năng hướng dẫn, hỗ trợ và lan tỏa năng lực sử dụng, ứng dụng trí tuệ nhân tạo an toàn, hiệu quả và có trách nhiệm; ít nhất 10 triệu lao động được đào tạo, bồi dưỡng hoặc cập nhật kỹ năng sử dụng trí tuệ nhân tạo cơ bản.
b) Phát triển nhân lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo theo ngành, lĩnh vực: đào tạo mới, đào tạo chuyển đổi và bồi dưỡng nâng cao tối thiểu 50.000 nhân lực trình độ đại học trở lên, có năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong các ngành, lĩnh vực trọng điểm.
c) Phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo trình độ cao, chuyên sâu: đào tạo, bồi dưỡng ít nhất 10.000 nhân lực trình độ cao về trí tuệ nhân tạo, bao gồm nhà nghiên cứu, kỹ sư và chuyên gia có năng lực nghiên cứu, phát triển, làm chủ, triển khai, vận hành và quản trị các hệ thống trí tuệ nhân tạo tiên tiến, trong đó có ít nhất 1.500 chuyên gia có khả năng nghiên cứu, phát triển, làm chủ công nghệ lõi và dẫn dắt các nhiệm vụ trí tuệ nhân tạo trọng điểm.
d) Hình thành hệ thống giáo dục tích hợp trí tuệ nhân tạo ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo; 100% cơ sở giáo dục đại học triển khai quy định về sử dụng trí tuệ nhân tạo trong đào tạo, nghiên cứu và đánh giá; ít nhất 80% chương trình đào tạo cấp văn bằng của giáo dục nghề nghiệp tích hợp chuẩn đầu ra và nội dung đào tạo về năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo phù hợp với từng lĩnh vực, ngành, nghề đào tạo.
đ) Phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo và nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo: hình thành ít nhất 10 trung tâm đào tạo và nghiên cứu tiên tiến chuyên sâu về trí tuệ nhân tạo, trong đó có từ 5 đến 7 trung tâm trí tuệ nhân tạo đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, từng bước tiệm cận trình độ quốc tế; phát triển ít nhất 25 cơ sở giáo dục đại học là đầu mối đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo về trí tuệ nhân tạo, triển khai các chương trình đào tạo chuyên sâu về trí tuệ nhân tạo, các chương trình tích hợp trí tuệ nhân tạo theo ngành, lĩnh vực (AI+X) và chương trình ứng dụng trí tuệ nhân tạo (X+AI).
Định hướng phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo đến năm 2035
a) Hình thành hệ sinh thái nhân lực trí tuệ nhân tạo hiện đại, bền vững, có khả năng thích ứng với sự phát triển của công nghệ và hội nhập quốc tế; năng lực sử dụng, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trở thành năng lực phổ biến của lực lượng lao động; trí tuệ nhân tạo trở thành công nghệ nền tảng thúc đẩy học tập, lao động, sản xuất, kinh doanh và quản trị quốc gia.
b) Phát triển đội ngũ nhân lực trí tuệ nhân tạo có quy mô, cơ cấu và chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế số, xã hội số, kinh tế xanh, các ngành công nghệ chiến lược và nâng cao năng lực tự chủ công nghệ của quốc gia. Hình thành đội ngũ chuyên gia, kỹ sư, nhà khoa học, giảng viên và nhà quản lý có trình độ cao, có khả năng nghiên cứu, phát triển, làm chủ và dẫn dắt công nghệ trí tuệ nhân tạo và có năng lực cạnh tranh trong mạng lưới phát triển trí tuệ nhân tạo của khu vực và quốc tế.
c) Hình thành các trung tâm, chương trình đào tạo và nhóm nghiên cứu trí tuệ nhân tạo đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và quốc tế; có năng lực đào tạo nhân lực trí tuệ nhân tạo chất lượng cao, nghiên cứu và phát triển công nghệ trí tuệ nhân tạo lõi, thu hút chuyên gia quốc tế và tham gia sâu vào mạng lưới phát triển trí tuệ nhân tạo của khu vực và quốc tế.
d) Việt Nam trở thành quốc gia có năng lực phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo thuộc nhóm hàng đầu trong khu vực, có hệ sinh thái đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng và quản trị trí tuệ nhân tạo an toàn, tin cậy và có trách nhiệm, đóng góp trực tiếp vào tăng năng suất lao động, đổi mới sáng tạo, chất lượng dịch vụ công, năng lực cạnh tranh quốc gia và bảo vệ lợi ích quốc gia trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo.
Giải pháp phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo
1. Xây dựng, hoàn thiện thể chế về chuẩn năng lực và hệ thống quản trị phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo
a) Xây dựng Khung năng lực trí tuệ nhân tạo quốc gia, trong đó quy định tiêu chuẩn đánh giá năng lực trí tuệ nhân tạo tham chiếu các khung năng lực trí tuệ nhân tạo và chuẩn mực quốc tế, bảo đảm phù hợp với điều kiện Việt Nam.
b) Xây dựng, ban hành hướng dẫn áp dụng chuẩn chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra, chương trình bồi dưỡng về trí tuệ nhân tạo đối với một số nhóm đối tượng trọng tâm, bảo đảm thống nhất, liên thông giữa các trình độ đào tạo.
c) Rà soát, tích hợp phù hợp nội dung cơ bản về trí tuệ nhân tạo, tư duy tính toán, kỹ năng số và đạo đức trong sử dụng công nghệ vào chương trình giáo dục phổ thông theo lộ trình và thẩm quyền; khuyến khích hoạt động trải nghiệm, nghiên cứu và sáng tạo trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo.
d) Bổ sung chuẩn năng lực trí tuệ nhân tạo trong chuẩn nghề nghiệp theo từng đối tượng cụ thể theo thẩm quyền và phù hợp với từng ngành, nghề, vị trí việc làm; quy định về công nhận, đánh giá và chứng nhận năng lực trí tuệ nhân tạo nhằm thúc đẩy học tập suốt đời và dịch chuyển lao động.
đ) Xây dựng cơ sở dữ liệu về nhân lực trí tuệ nhân tạo, cho phép theo dõi, đánh giá và dự báo cung, cầu nhân lực và kỹ năng, làm cơ sở cho hoạch định chính sách và điều chỉnh chương trình đào tạo.
e) Thiết lập và vận hành cơ chế phối hợp liên bộ, liên ngành; xây dựng hệ thống theo dõi, giám sát và đánh giá việc phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo, bảo đảm gắn kết giữa giáo dục, khoa học công nghệ, chuyển đổi số và thị trường lao động, nâng cao hiệu quả điều phối và triển khai Chương trình.
2. Phát triển đội ngũ nhà giáo, chuyên gia và mạng lưới hỗ trợ đào tạo trí tuệ nhân tạo
a) Xây dựng và triển khai các chương trình bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng và năng lực sử dụng, ứng dụng trí tuệ nhân tạo cho đội ngũ giảng viên, giáo viên ở các cấp học và trình độ đào tạo, bảo đảm phù hợp với Khung năng lực trí tuệ nhân tạo quốc gia.
b) Tổ chức đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng phát triển đội ngũ giảng viên, chuyên gia trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, gắn đào tạo với nghiên cứu, ứng dụng và nhu cầu của doanh nghiệp; hình thành mạng lưới giảng viên/chuyên gia về trí tuệ nhân tạo.
c) Thu hút, trọng dụng chuyên gia trong nước, chuyên gia người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế về làm việc, đào tạo nhân lực trí tuệ nhân tạo.
d) Khuyến khích luân chuyển, trao đổi chuyên gia giữa viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục và doanh nghiệp, nhằm tăng cường gắn kết giữa đào tạo, nghiên cứu và thực tiễn ứng dụng.
3. Phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo trình độ cao, chuyên sâu và năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo
a) Phát triển và triển khai các chương trình đào tạo chuyên sâu về trí tuệ nhân tạo gắn với lĩnh vực kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược theo chuẩn quốc tế và đáp ứng nhu cầu phát triển công nghệ; khuyến khích các chương trình liên ngành AI+X gắn với các lĩnh vực ưu tiên.
b) Triển khai có hiệu quả các chính sách học bổng đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ và sau tiến sĩ trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, ưu tiên các lĩnh vực công nghệ lõi phục vụ một số hướng ứng dụng có lợi thế so sánh của Việt Nam, gắn với nhu cầu phát triển quốc gia.
c) Hỗ trợ hình thành và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, phòng thí nghiệm trọng điểm và trung tâm nghiên cứu xuất sắc về trí tuệ nhân tạo, bảo đảm điều kiện nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và đào tạo nhân lực chất lượng cao; khuyến khích các nhóm nghiên cứu liên ngành, gắn với hệ thống cơ sở dữ liệu và bài toán thực tiễn trong nước.
d) Triển khai các chương trình đặt hàng gắn kết giữa nghiên cứu - đào tạo - chuyển giao công nghệ, huy động sự tham gia của Nhà nước, cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp; trong đó doanh nghiệp là đối tác đồng kiến tạo bài toán, dữ liệu và môi trường thử nghiệm.
đ) Tăng cường hợp tác quốc tế, liên kết với các cơ sở giáo dục đại học và viện nghiên cứu hàng đầu thế giới trong đào tạo, nghiên cứu và trao đổi nhân lực trí tuệ nhân tạo, nhằm tiếp cận tri thức tiên tiến và nâng cao năng lực nội sinh.
4. Phổ cập, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng trí tuệ nhân tạo cho người học, người lao động, cán bộ, công chức, viên chức
a) Xây dựng và triển khai các chương trình phổ cập kiến thức, kỹ năng trí tuệ nhân tạo cơ bản cho người học, người lao động và đội ngũ cán bộ quản lý và cộng đồng theo hình thức linh hoạt, phù hợp với từng nhóm đối tượng, kết hợp đào tạo trực tuyến, trực tiếp, tự học có hướng dẫn, học tập cộng đồng và bồi dưỡng tại nơi làm việc.
b) Xây dựng các chương trình đào tạo lại nâng cao kỹ năng trí tuệ nhân tạo phù hợp với nhu cầu người lao động, vị trí việc làm và yêu cầu của ngành, lĩnh vực chịu tác động mạnh của trí tuệ nhân tạo, tập trung vào khả năng sử dụng công cụ trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu, tự động hóa quy trình, phối hợp người - máy, bảo vệ dữ liệu và thích ứng với thay đổi nghề nghiệp.
c) Tổ chức bồi dưỡng, hướng dẫn tự học, tự tích lũy năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong công vụ cho cán bộ, công chức, viên chức thông qua khóa học, công cụ tự học và thực hành sử dụng trí tuệ nhân tạo trong thực hiện nhiệm vụ.
d) Hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, cơ sở sản xuất kinh doanh và các tổ chức xã hội nghề nghiệp tiếp cận chương trình bồi dưỡng trí tuệ nhân tạo, công cụ đánh giá năng lực, chuyên gia tư vấn và nguồn học liệu dùng chung để nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh.
đ) Ưu tiên hỗ trợ nhóm yếu thế, người lao động có nguy cơ bị thay thế bởi tự động hóa, người học ở vùng khó khăn, phụ nữ trong lĩnh vực công nghệ, người khuyết tật và các nhóm cần được bảo đảm cơ hội tiếp cận công bằng với năng lực trí tuệ nhân tạo.
e) Xây dựng, rà soát, cập nhật chương trình đào tạo, bồi dưỡng trực tuyến mở nhằm phổ cập năng lực trí tuệ nhân tạo; phát triển hệ thống học liệu mở, tài nguyên giáo dục dùng chung về trí tuệ nhân tạo và phối hợp tích hợp, triển khai trên nền tảng Bình dân học vụ số cùng các nền tảng học tập số hiện có.
g) Hình thành xã hội học tập, cộng đồng học tập, trong hệ thống giáo dục quốc gia phù hợp với từng tầng tiếp cận: tổ chức đào tạo khóa học, môn học sử dụng nền tảng số, tài nguyên giáo dục mở với tầng phổ cập; phát triển các mô hình đào tạo tích hợp trí tuệ nhân tạo theo ngành, lĩnh vực (X+AI) và các chương trình ứng dụng trí tuệ nhân tạo phù hợp với từng nhóm đối tượng, trình độ và nhu cầu nghề nghiệp (AI+X).
5. Gắn đào tạo với doanh nghiệp và thị trường lao động
a) Triển khai cơ chế đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp và thị trường lao động; thúc đẩy hợp tác giữa Nhà nước, cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu và doanh nghiệp trong triển khai đào tạo theo đơn đặt hàng đối với các chương trình đào tạo ngắn hạn, cấp tốc theo yêu cầu của doanh nghiệp, các nhà đầu tư chiến lược, tập đoàn đa quốc gia.
b) Nghiên cứu, đề xuất và triển khai theo thẩm quyền các mô hình thử nghiệm có kiểm soát "sandbox" trong đào tạo, thực hành và ứng dụng trí tuệ nhân tạo theo quy định của pháp luật.
c) Phát triển và nhân rộng các mô hình đào tạo gắn với thực tiễn như thực tập, đào tạo gắn với thực hành tại doanh nghiệp; thực hiện cơ chế đồng hướng dẫn giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp; thúc đẩy các mô hình học kỳ doanh nghiệp, học tập trải nghiệm trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo.
d) Áp dụng cơ chế ưu đãi tài chính cho các doanh nghiệp đầu tư vào các phòng thí nghiệm trí tuệ nhân tạo tại các cơ sở giáo dục.
đ) Khuyến khích doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình đào tạo, tiếp nhận thực tập, đào tạo lại lao động và phối hợp triển khai các mô hình trí tuệ nhân tạo ứng dụng theo ngành nghề, lĩnh vực.
e) Xây dựng và phát triển hệ sinh thái kết nối tuyển dụng, sử dụng và phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo, tăng cường phối hợp, kết hợp giữa nhà trường, thị trường lao động và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
g) Nghiên cứu cơ chế tài chính hỗ trợ đào tạo lại, đào tạo nâng cao kỹ năng cho người lao động bị tác động bởi trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và chuyển đổi số; trong đó ưu tiên khai thác, lồng ghép với chính sách phát triển kỹ năng nghề, Quỹ bảo hiểm thất nghiệp, các chương trình đào tạo lại hiện có, nguồn xã hội hóa, hợp tác công - tư và đóng góp tự nguyện của doanh nghiệp; trường hợp cần thiết, nghiên cứu đề xuất mô hình quỹ hoặc cơ chế tài chính chuyên biệt theo quy định của pháp luật.
6. Phát triển hạ tầng, dữ liệu và môi trường thực hành dùng chung phục vụ đào tạo trí tuệ nhân tạo
a) Kết nối, chia sẻ và khai thác hạ tầng trí tuệ nhân tạo trong mạng lưới hạ tầng trí tuệ nhân tạo quốc gia.
b) Phát triển các nền tảng dùng chung về học liệu, mô hình, công cụ và môi trường thực hành trí tuệ nhân tạo, hỗ trợ giảng dạy, học tập, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo trên phạm vi toàn quốc; ưu tiên tích hợp với hạ tầng tính toán và kho dữ liệu dùng chung, hình thành hệ sinh thái thực hành trí tuệ nhân tạo trực tuyến.
c) Thiết lập và thực hiện cơ chế tiếp cận, phân bổ và sử dụng tài nguyên tính toán và dữ liệu đối với các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, viện nghiên cứu và nhóm nghiên cứu, bảo đảm công bằng, hiệu quả và ưu tiên cho các nhiệm vụ trọng điểm; quy định rõ đơn vị quản trị, quy trình đăng ký - phê duyệt - giám sát sử dụng và cơ chế ưu tiên cho các chương trình, nhóm nghiên cứu đạt chuẩn.
7. Truyền thông, nâng cao nhận thức và phổ cập kỹ năng trí tuệ nhân tạo
a) Đẩy mạnh truyền thông xã hội về trí tuệ nhân tạo, kết hợp phát triển các nền tảng tự học, chương trình học tập cộng đồng và tài nguyên mở, nhằm mở rộng khả năng tiếp cận và nâng cao nhận thức của toàn xã hội về trí tuệ nhân tạo.
b) Tổ chức hướng dẫn và phổ biến việc sử dụng trí tuệ nhân tạo an toàn, có trách nhiệm, gắn với các nguyên tắc đạo đức, pháp lý và bảo vệ dữ liệu.
Quyết định 1528/QĐ-TTg