Chưa có công trình nghiên cứu khoa học

06-04-2012 20:23 | Y học cổ truyền
google news

Trong y học cổ truyền, thạch sùng là một trong những loài bò sát được dùng làm thuốc từ rất lâu đời. Các y thư cổ như Bản thảo cương mục, Đường bản thảo, Thánh huệ phương, Thánh tễ tổng lục, Kỳ hiệu lương phương…đều có bàn đến thạch sùng với những kiến giải và kinh nghiệm trị liệu khá sâu sắc.

Trong y học cổ truyền, thạch sùng là một trong những loài bò sát được dùng làm thuốc từ rất lâu đời. Các y thư cổ như Bản thảo cương mục, Đường bản thảo, Thánh huệ phương, Thánh tễ tổng lục, Kỳ hiệu lương phương…đều có bàn đến thạch sùng với những kiến giải và kinh nghiệm trị liệu khá sâu sắc.

Thạch sùng có nhiều loài, trong đó chỉ có các loài như Hemidactylus frenatus Schlegel, Gekko swinhonis Guenther, Gekko japonicus (Duméril & Bibron), Gekko chinensis Gray thuộc họ tắc kè (Gekkonidae) là được sử dụng làm thuốc với nhiều tên gọi khác nhau như thằn lằn, mối rách, bích hổ, thủ cung, thiên long… Thạch sùng sống hoang khắp nơi ở vùng nhiệt đới, trong nhà nó thường xuất hiện vào ban đêm dưới ánh đèn để bắt muỗi và bướm. Để làm thuốc, người ta thường dùng thạch sùng dưới dạng toàn thân phơi khô

Theo dược học cổ truyền, thạch sùng vị mặn, tính hàn, có ít độc, có tác dụng bổ phế thận, ích tinh huyết, chỉ khái định suyễn, khứ phong hoạt lạc, tán kết giải độc, trấn tĩnh giản kính (an thần, chống co giật), thường được dùng để chữa các chứng bệnh như trúng phong tê liệt (liệt bại do tai biến mạch não), trẻ em kinh phong (co giật), phá thương phong (uốn ván), trẻ em cam tích, tràng nhạc (lao hạch), hư lao khái thấu (ho nhiều do hư lao), khí suyễn (hen phế quản), khạc huyết (ho ra máu), dương nuy (liệt dương), viêm đa khớp dạng thấp, các chứng đau do thần kinh, ác sang (viêm loét ác tính), nấm da, cước khí… Sách Tứ xuyên Trung dược chí còn ghi rằng thạch sùng có công dụng “khu phong, phá huyết tích thành cục, trị thũng lựu (ung thư)”.

 Thạch sùng...

Ví như, để chữa lao hạch và hen suyễn, người ta thường dùng thạch sùng cho vào chuối hoặc bọc trong lá khoai lang đã hơ nóng cho mềm để dễ nuốt hoặc dùng thạch sùng sấy khô, tán thành bột mỗi ngày uống nửa phân với rượu hoặc dùng thạch sùng 2 con, hạ khô thảo 6g sấy khô tán bột chia uống 2 lần trong ngày với rượu vàng kết hợp với dùng thạch sùng sao tồn tính, tán lấy bột hòa với dầu vừng bôi lên hạch bị tổn thương; để trị ung sang đau nhiều dùng bột thạch sùng trộn với dầu vừng bôi lên tổn thương; để trị chứng co giật do tâm hư dùng thạch sùng sao vàng 1 con tán bột trộn với một chút chu sa và xạ hương uống với nước sắc lá bạc hà; để trị chứng tay chân liệt bại đau nhiều dùng ngự mễ xác sao mật 1 tiền, trần bì 5 tiền, thạch sùng sao vàng, nhũ hương, một dược và cam thảo mỗi vị 2 tiền 5 phân, tất cả tán thành bột, uống mỗi ngày 3 tiền hoặc dùng thạch sùng 2 con, địa long 15g, toàn yết (bọ cạp) 9g, ngưu tất 25g, tất cả sấy khô, tán bột, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 6g; để chữa co giật mạn tính do tâm hư (kinh phong) dùng thạch sùng màu vàng 1 con sấy khô, tán bột uống với nước sắc bạc hà cùng một chút ít chu sa và xạ hương, kết hợp uống đơn sắc Nhị trần thang; để chữa viêm đa khớp dạng thấp dùng thạch sùng 10g, ngô công 10g, bạch chỉ 20g, tất cả đem sấy khô, tán bột, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 4g; để trị nấm da dùng thạch sùng 5 con và ngô công (con rết) 5 con đem ngâm với rượu nặng lấy dịch chiết bôi lên tổn thương; để trị cước khí (thấp chẩn) dùng thạch sùng 2 con đem ngâm với 200ml cồn 90%, sau 10 ngày thì dùng được, lấy dịch chiết bôi vào tổn thương…

Về thành phần hóa học, thạch sùng có chứa tới 11,92 - 15,97% chất béo, trong đó có lecitin, lyzolecitin, sphingomyelin, cephlin, cardiolipin, phosphattidyn serin và phosphatidylinontola, một chất giống histamin. Ngoài ra, còn chứa protid và một loại chất có độc. Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, trên in vitro, thạch sùng có tác dụng ức chế hô hấp tế bào ung thư gan, ức chế trực khuẩn lao và một số loại nấm gây bệnh thường gặp, an thần gây ngủ, chống co giật và chống ung thư máu. Trên lâm sàng, các nhà y học Trung Quốc đã dùng thạch sùng để chữa suy nhược thần kinh, lao hạch, cốt tuỷ viêm, ung thư thực quản, ung thư dạ dày…

 ... phối hợp với hạ khô thảo chữa lao hạch và hen suyễn.

Ví như, để chữa lao hạch, người ta dùng thạch sùng sấy khô, tán bột rồi đóng vào các viên nang, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 2 - 3 viên với rượu vàng; để chữa ung thư thực quản và dạ dày dùng thạch sùng 1 con sao với gạo cho đến khi gạo vàng đen thì lấy ra tán bột chia uống 2 - 3 lần với rượu vàng hoặc lấy 10 con thạch sùng sống (còn đuôi) đem ngâm với 500ml rượu cao độ, sau 7 ngày là có thể dùng được, uống mỗi ngày 3 - 4 lần, mỗi lần 10 ml hoặc đơn giản là uống bột thạch sùng mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 3 - 6g; để chữa cốt tuỷ viêm dùng thạch sùng 15g, dã cúc hoa 15g, địa cốt bì 15g, thanh cao 12g, sắc uống mỗi ngày 1 thang…

Như vậy, có thể thấy, cũng như một số loài động vật khác, thạch sùng có khá nhiều công dụng trong việc phòng chống bệnh tật, đặc biệt là các bệnh lý khó chữa. Tuy nhiên, cho đến nay, ở nước ta vẫn chưa có công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc nào về vấn đề này. Bởi thế, việc sử dụng thạch sùng chữa bệnh vẫn chỉ dừng lại ở mức độ kinh nghiệm rời rạc và thiếu tính thuyết phục, thậm chí có thể dẫn đến những hậu quả đáng tiếc do không được tư vấn đầy đủ. Vậy nên, việc khuyến cáo không nên tự ý sử dụng thạch sùng làm thuốc là rất cần thiết.   

  Thạc sĩ Hoàng Khánh Toàn


Ý kiến của bạn