Chú Năm Xuân và Khoa Dược của chúng tôi

Xã hội
Qua gần 6 tháng vừa hành quân vừa vật lộn với bệnh sốt rét, ngày 15/5/1972, tôi vào đến bãi trực của Ban Dân y R. Bạn bè thân thuộc của Đoàn A208 chẳng còn ai vì đã được phân công đi các địa phương.
(SKDS) - 1. Qua gần 6 tháng vừa hành quân vừa vật lộn với bệnh sốt rét, ngày 15/5/1972, tôi vào đến bãi trực của Ban Dân y R. Bạn bè thân thuộc của Đoàn A208 chẳng còn ai vì đã được phân công đi các địa phương. Ngày 23/5, tôi nhận quyết định về công tác tại Khoa Dược C7-BS67. Đây là Bệnh viện Trung Cao Miền, chuyên chữa trị cho cán bộ trung - cao cấp. Vừa chớm tuổi 25, lại mới ra trường, có lẽ vì là đảng viên (kết nạp tại Trường đại học Dược khoa Hà Nội) nên tôi được phân công làm Trưởng khoa Dược thay anh Đinh Văn Kỷ hy sinh vì B52.
 
Tôi nghe kể lại, hôm ấy, ngày 8/3, chị em náo nức tổ chức kỷ niệm Ngày Quốc tế phụ nữ thì máy bay Mỹ đến ném bom Bệnh viện C2 và C7. Tính theo đường chim bay, hai bệnh viện này cách nhau khoảng một cây số. Tại Bệnh viện C7, ngoài anh Kỷ còn có chị Nguyễn Thị Ánh và em Nguyễn Xuân Hồng hy sinh. Chú Năm Xuân, C Trưởng C7 bị sức ép của bom, chảy máu mũi, máu tai, phải điều trị hơn hai tuần.

Mang ba lô về Khoa Dược, tôi được bố trí ở cùng nhà với dược sĩ Trương Đình Xuân, là bạn học cùng khóa, cùng đi B một đoàn, nhưng vào đây trước tôi ba tháng. Sáng hôm sau, tôi trình diện chú Năm Xuân.

Phải nói rằng, trong cuộc đời, tôi có may mắn là gặp được nhiều thầy hiền, bạn tốt và thủ trưởng đức độ, tài ba. Nhưng có lẽ chú Năm Xuân là người đầu tiên đã có ảnh hưởng lớn lao đến cuộc đời tôi. Tôi coi chú như một người thầy, người cha kính mến. Chú cũng coi tôi như một người con, người học trò yêu. Không biết có thủ trưởng nào cưng lính như chú cưng tôi. Và cũng không biết có thủ trưởng nào mắng lính nhiều như chú mắng tôi. Thời gian đầu bị chú mắng oan, đêm về tôi chỉ biết khóc. Riết rồi quen. Chú mắng vì chú lo cho công việc chứ không ghét bỏ một ai.

Khoa Dược chúng tôi có 15 người nhưng phải đảm nhiệm sản xuất cả Đông y và Tây y. Dược liệu, một phần móc nối ở cửa khẩu để mua, phần lớn là dựa vào rừng. Khai thác dược liệu từ rừng, anh chị em chúng tôi phải đối mặt với bom đạn, biệt kích và nhiều hiểm nguy khác. Vì vậy, viên thuốc làm ra thấm đẫm cả máu và mồ hôi. Sản xuất Đông dược đa số là phải nấu cao và sấy thuốc bằng phương pháp cách thủy. Tất cả phải dùng đến lửa. Ở chiến trường, một nguyên tắc đặt ra là ban ngày không được có khói, ban đêm không được có ánh sáng để đề phòng máy bay địch. Vì vậy, thuốc làm ra nhiều mẻ bị mốc. Mọi người có “sáng kiến” lấy vải màn (nhiều lớp) thấm cồn trải lên sàng rồi cho từng viên thuốc mới chớm mốc lên, lắc đều để vải màn có cồn lau đi những vệt mốc, sau đó sấy lại. Những viên thuốc ấy lại trông gần như mới. Chú Năm Xuân phát hiện ra, gọi tôi lên và nghiêm khắc nói:

- Cháu à, công lao ba vạn cũng bỏ. Thuốc đã bị mốc, không những bệnh nhân không lành bệnh mà còn phát sinh nhiều bệnh mới.

Tôi toát mồ hôi. Dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù khó khăn đến đâu, chú Năm luôn yêu cầu người thầy thuốc phải đặt chất lượng sản phẩm lên hàng đầu. Bài học này đã theo tôi suốt cuộc đời làm thuốc sau này. Càng sống và làm việc dưới quyền giáo sư - lương y Lê Minh Xuân, tôi càng phát hiện ra ở chú nhiều phẩm chất cao quý mà lớp trẻ chúng tôi phải noi theo.

Trong các khu rừng ở Đông Nam Bộ, cây thuốc hà thủ ô trắng có tác dụng bổ máu và làm đen tóc. Các hoạt chất trong hà thủ ô rất kỵ với kim loại. Vì vậy, cứ mỗi lần đi khai thác, chúng tôi đều dùng gỗ hoặc tre vót nhọn để làm dụng cụ đào bới. Sau khi rửa sạch củ hà thủ ô, phải dùng cật tre vát mỏng như lưỡi dao để cạo vỏ. Tiếp đến đập nhỏ dược liệu thành những mảnh vụn, phơi khô và giã lấy bột bằng chày và cối gỗ. Như vậy, từ khâu đầu cho đến khâu gần cuối cùng, hà thủ ô đều không tiếp xúc với kim loại, nhưng phần còn lại của lõi cây và phần thô sau khi tán bột lại phải dùng nồi nhôm để nấu cao. Nỗi băn khoăn của chú Năm lây cả sang tôi. Trong một lần đi tìm dược liệu, anh chị em phát hiện một gia đình Campuchia có chiếc nồi đất rất to. Chúng tôi mua với giá nào họ cũng không bán, chỉ đồng ý đổi hai chiếc nồi nhôm đường kính năm tấc. Có nồi đất để nấu cao, chú Năm phấn khởi lắm. Nhiều lần chú đi đi lại lại, xuýt xoa khen ngợi. Một thời gian sau, chiếc nồi đất bị nứt và trở thành vô dụng. Anh em trong khoa bàn nhau giấu biệt sự việc trên vì sợ chú Năm buồn. Chiếc nồi đất vẫn ở yên vị trí như để khẳng định sự tồn tại của nó, nhưng việc nấu cao lại phải dùng nồi nhôm. Biết tính chú, không chiều theo ý của anh em, tôi lên gặp chú và nói rõ sự thật. Nghe xong, chú Năm lặng đi rất lâu như vừa tiếc nuối, như vừa cảm thấy bất lực, rồi vỗ nhẹ vào tai tôi, hạ giọng:

- Thôi cháu, sự đã rồi. Cháu cũng đừng rầy la anh em tội nghiệp.

Tôi rơm rớm nước mắt. Không phải chỉ mình tôi, chú Năm luôn thương yêu và tôn trọng tất cả mọi người.

Chú Năm không những là thầy thuốc Đông y giỏi mà còn là một người nội trợ tài ba, biết chế biến nhiều món ăn cả ba miền, nào tương chao, mắm muối, bánh da lợn, bánh bột lọc…

Năm 1973, máy bay ngụy quyền Sài Gòn ném bom vào bệnh viện, bệnh nhân an toàn, nhưng đã làm chết một con trâu. Chú Năm gọi tôi:

- Cháu ra đó lấy ngay bộ gan trâu mang về làm thuốc phi-la-tốp.

Tôi chưng hửng hỏi lại:

- Chúng ta có tủ lạnh đâu chú?

Điều chế phi-la-tốp thực chất là điều chế thuốc Tây y. Những người làm trong ngành dược đều biết rằng, trong điều kiện không phù hợp, bản thân sinh vật (động vật và thực vật) sẽ sản sinh ra một chất gọi là “kích phát sinh tố”. Chế phẩm phi-la-tốp thu được từ đó. Nhưng làm sao để đưa bộ gan trâu về với nhiệt độ thích hợp được? Biết tôi lúng túng, chú Năm hướng dẫn:

- Cháu lấy một chiếc xô, cho bộ gan vào đó, buộc một hòn đá nặng theo xô, rồi thả xuống cái giếng sâu nhất trong rừng, chúng ta có thể đưa bộ gan về nhiệt độ thích hợp.

Tôi đã chọn một cái giếng sâu nhất để làm theo ý chú. Tuy thế, đến ngày thứ ba thì ruồi đến đậu đen đặc trên miệng giếng. Như thế nghĩa là bộ gan đã phân hủy và bốc mùi. Ý đồ chế phi-la-tốp không thực hiện được nữa. Chú Năm lại khoát tay:

- Như vậy là giếng của cháu chưa đủ độ sâu để có nhiệt độ mong muốn. Thôi hãy kéo lên, mang về làm nước mắm.

Chú Năm Xuân có hiểu biết khá rộng về Đông y lẫn Tây y cùng với kỹ thuật chế biến thực phẩm. Chú sẵn sàng vứt bỏ những sản phẩm kém chất lượng vì sức khỏe của người bệnh, nhưng lại biết cách tận dụng bất cứ nguyên vật liệu nào để tạo ra sản phẩm mới cho con người. Đức tính quý giá đó của chú là những bài học để đời cho lớp cán bộ trẻ chúng tôi.

 Giáo sư, lương y Lê Minh Xuân và tác giả (bên phải ảnh).

Một lần, chú Năm Xuân phải nhập viện. Cùng nhập viện với chú Năm còn có một đồng chí khác từ Trung ương Cục chuyển sang. Vì vậy tôi lại phải pha chế dịch truyền. Cũng như bao lần trước, sau khi pha chế xong tôi để cho y sĩ Hải truyền thử cho mình. Truyền hết 10ml đầu tiên, người tôi vẫn bình thường. Tôi bảo Hải: “Cho anh thêm 10ml nữa”. Chưa kịp truyền tiếp 10ml thứ hai thì tôi cảm thấy người ớn lạnh, rùng mình. Tôi kêu lên:

- Chú Hải ơi, có lẽ anh bị sốc thuốc!

6 tháng bị sốt rét, truyền bao nhiêu là huyết thanh, nhưng tôi chưa một lần bị sốc. Thế mà lần này… Hải vừa rút kim ra thì người tôi co cứng lại. Đặc biệt là các cơ vòng.

Tôi chỉ ú ớ như “Việt gian” vì các cơ thanh quản đã co lại, kẹt nhất là nó co luôn các cơ vòng ở hậu môn. Tôi lồm cồm cố bò ra phía miệng hầm. Mọi người lấy chậu nhôm bảo tôi “dùng” luôn ở đó, nhưng tôi vẫn vùng vằng cố lết ra tới miệng hầm để giải quyết “đại sự”. Thế mới biết cái mắc cỡ của tuổi thanh xuân nó ương ngạnh đến mức nào! Mọi người đã bắt đầu khóc vì cứ tưởng tôi sẽ đi luôn.
 
Nhưng nhờ sự cố xảy ra ngay tại bệnh viện, có thuốc men, nên chỉ gần tiếng đồng hồ sau cấp cứu, tôi đã trở lại bình thường. Nếu như đợt đó không thử kỹ cho tôi mà truyền cho chú Năm và đồng chí cán bộ bên Trung ương Cục, không biết hai chú sẽ thế nào!

Từ đó trở đi, cứ mỗi lần pha chế dịch truyền, theo chỉ thị của chú Năm Xuân, tổ Đảng phải đứng ra phân công người thử. Nhưng phân công là phân công thế thôi, tôi là Trưởng khoa, là con trai, lại trẻ tuổi và dù sao cũng còn thuộc loại khỏe mạnh nhất nên hầu hết số lần thử tôi lại đứng ra đảm nhận.

2. Áp lực của bom đạn chiến tranh, áp lực của công việc hằng ngày đã làm cho chúng tôi luôn ở trạng thái căng thẳng, nhưng có những áp lực vô hình đôi khi cũng làm căng thẳng không kém. Về lĩnh vực này, tôi có một kỷ niệm không thể nào quên, đó là trường hợp xét kết nạp đảng viên đối với dược sĩ Nguyễn Thị Thanh Bình, quê Nam Hà, đi B cùng đợt với tôi. Chị là một phụ nữ giàu nghị lực, hết mình vì công việc, là cấp phó của tôi. Sau một thời gian theo dõi và bồi dưỡng, tổ Đảng đã nhất trí một trăm phần trăm đề nghị chi bộ xét kếp nạp.

Ở cuộc họp chi bộ xét kết nạp đảng viên lần đó, sau khi nghe đọc lý lịch của Nguyễn Thị Thanh Bình, nhìn ra ngoài, tôi thấy cậu giao liên của chú Năm thập thò trước lán. Tôi nói nhỏ với chú Năm:

- Chắc chú có khách.

Chú trả lời:

- Tao sẽ phát biểu trước khi rời phòng họp, mày yên tâm đi.

Bằng giọng sôi nổi khác thường, chú Năm phát biểu một mạch về ý nghĩa của công tác phát triển Đảng, định hướng cho chi bộ luôn sẵn sàng đưa những người ưu tú trong quần chúng, không phân biệt Bắc Nam, tuổi tác, nam nữ vào Đảng nhằm tăng cường sức chiến đấu của Đảng. Về trường hợp Nguyễn Thị Thanh Bình, chú khẳng định sự phấn đấu liên tục bền bỉ, lập trường kiên định và ý thức trách nhiệm trong công tác được giao của cô. Cuối cùng chú nói:

- Khi chi bộ lấy biểu quyết, xin ghi nhận một phiếu tán thành của tôi.

Chú Năm đi rồi, cuộc họp vẫn kéo dài khá lâu vì vẫn còn có ý kiến dùng dằng nói lui nói tới. Nhưng cuối cùng, khi chi bộ biểu quyết, chị Bình cũng được quá bán số phiếu tán thành.

Thế rồi, chờ đợi một tháng, hai tháng, rồi ba tháng… vẫn không thấy quyết định kết nạp của Đảng ủy cấp trên. Tôi hỏi một anh bạn là Bí thư Đoàn Thanh niên nhân dân cách mạng Ban Dân y, đồng thời có chân trong Đảng ủy, anh cho biết:

- Về trường hợp Nguyễn Thị Thanh Bình, không thấy Chi ủy C7 gửi hồ sơ lên đây.

Té ra là như vậy?!

Tôi thuật lại chuyện ấy cho chú Năm nghe, chú giận lắm. Chú cho mời chú Ba D, Bí thư chi bộ đồng thời là cấp phó của mình. Từ bìa rừng, tôi nghe tiếng nói có phần gay gắt của chú Năm:

- Các đồng chí có kiểu làm ăn gì lạ vậy? Nếu nơi nào cũng có những biểu hiện cục bộ, bè phái như vậy thì làm sao chúng ta thắng được Mỹ?

Cũng xin nói thêm, anh em chúng tôi cũng có nhiều người biết được quá khứ của chú Năm. Chú vào Đảng từ năm 1930 và hai người giới thiệu chú là hai nhân vật đã đi vào lịch sử, đó là Võ Văn Tần và Nguyễn Thị Nhỏ. Hơn nữa, trong chống Pháp, chú từng là Trưởng ty Công an tỉnh Long An. Chú hoàn toàn có quyền nói như trên với người phó của mình, vì chú nói như trải cả gan ruột cho tất thảy mọi người.

Khoảng một tháng sau, chị Bình có quyết định kết nạp Đảng. Trước hôm làm lễ kết nạp, biết được ít nhiều tâm tư của chị, tôi dặn:

- Trong buổi lễ, có phát biểu cảm tưởng, chị phải nói sao cho những người sau mình còn tiếp tục hăng hái phấn đấu, đừng làm cho người ta nhụt chí.

Tại buổi lễ, đến giờ phát biểu cảm tưởng, hình như lời dặn của tôi vẫn văng vẳng bên tai, chị đứng lặng vài phút. Rồi bất ngờ chị òa khóc nức nở.

Cả hội trường im phăng phắc. Sau khi quệt nước mắt, chị nói một thôi một hồi về những đè nén mà bấy lâu chị phải chịu đựng. Một đảng viên trong chi hội, ông Bảy Hà, cháu ruột của chú Năm Xuân phát biểu:

- Tôi đã dự không biết bao buổi lễ kết nạp đảng viên, có đồng chí khóc, nhưng đó là những giọt nước mắt sung sướng, tự hào, đằng này lại là những giọt nước mắt uất ức! Quả thật, nếu suy nghĩ nghiêm túc thì trong chi bộ ta không phải là không có vấn đề.

Đúng như nhận xét của anh Bảy Hà, có thể ở nơi này nơi kia còn có những biểu hiện cục bộ địa phương hoặc bè phái, mất đoàn kết, nhưng đối với chú Năm Xuân thì chuyện đó không bao giờ được xảy ra.

3. Sau ngày về tiếp quản Sài Gòn, Bệnh viện Trung Cao Miền và Khoa Dược chúng tôi phân tán mỗi người một nơi với những cương vị khác nhau. Chú Năm Xuân được Bộ Y tế bổ nhiệm làm Viện trưởng Viện Y Dược học dân tộc TP. Hồ Chí Minh. 10 năm làm viện trưởng, chú Năm đã cùng với BS. Bùi Chí Hiếu và tập thể lãnh đạo xây dựng viện từng bước tiến lên chính quy, hiện đại.
 
Sau giải phóng, việc xây dựng hệ thống đào tạo, hệ thống khám chữa bệnh, sản xuất thuốc y học cổ truyền cho TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam có ý nghĩa rất lớn trong việc phòng và chữa bệnh. Một điều rất đáng tiếc là chú Năm rất tận tụy, hết mình vì sức khỏe của bệnh nhân, rất say sưa nghiên cứu khoa học để tìm ra những loại thuốc mới và phương pháp chữa bệnh mới, nhưng một mảng không kém phần quan trọng là “sức khỏe nội bộ”, chú Năm lại chủ quan! Gần đây, được đọc bức thư chú Năm gửi Phó Thủ tướng Phạm Hùng hồi đó, tôi mới thấy sự phức tạp của nội bộ Viện thời bấy giờ (tôi sẽ công bố bức thư này vào một dịp thích hợp).
 
Vì thế, trước đây viện trực thuộc Bộ Y tế, đến tháng 3/1985 phải chuyển về trực thuộc Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh và chú Năm Xuân cũng đi khỏi viện từ đó. Quá buồn! Điều đáng buồn hơn là, nhiều năm sau, tôi quay lại viện, xin được gặp lãnh đạo để tìm hiểu thân thế của chú Năm Xuân, đi một vòng, rồi nhiều vòng, thấy viện đã dựng tượng và treo nhiều tranh, nhiều ảnh của nhiều nhân vật quen và chưa quen, nhưng tìm hoài vẫn không có hình ảnh của chú Lê Minh Xuân. Thật xót xa! Có lúc tôi tâm sự với chị Đoàn Thúy Ba (Anh hùng Lao động, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế): “Chú Năm thiệt thòi quá chị ơi!”. Chị Thúy Ba ngậm ngùi nắm lấy tay tôi, mắt ngấn lệ, không nói được nên lời.

Nhiều lúc tôi tự hỏi: Có khi nào, có ai đó có suy nghĩ nên đổi tên Viện Y dược học cổ truyền TP. Hồ Chí Minh thành Viện Y dược học cổ truyền Lê Minh Xuân – người suốt đời phấn đấu vì sự nghiệp y dược học dân tộc, người đặt nền móng xây dựng viện và mạng lưới y dược học cổ truyền TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam?

Sau ngày 30/4/1975, chúng tôi tiếp quản Viện Bào chế của BS. Tín. Đây là cơ sở sản xuất dầu khuynh diệp lớn nhất miền  Nam trước ngày giải phóng. Về sau, viện đổi thành Xí nghiệp Thuốc dân tộc. Theo sự chỉ đạo của chú Năm Xuân, xí nghiệp vừa tiếp tục sản xuất những mặt hàng của Viện Bào chế, vừa huấn luyện, triển khai sản xuất các mặt hàng cao đơn hoàn tán của Khoa Dược C7 với những dụng cụ thô sơ chuyển từ rừng về.
 
Ba tháng sau ngày tiếp quản, một loạt thuốc mới lần lượt có mặt trên thị trường: hà sâm hoàn, đởm kim hoàn, nhuận gan hoàn, nhuận tràng hoàn, minh mục hoàn, phì nhi đại bổ, viên tả lị, thuốc trị rắn cắn… Thời gian đầu, xí nghiệp trực thuộc Viện Y dược học cổ truyền TP. Hồ Chí Minh, sau đó trực thuộc Công ty Thuốc dân tộc do chú Tám Én làm chủ nhiệm.
 
Giữa năm 1977, Xí nghiệp Thuốc dân tộc sáp nhập với Liên Viện Bào chế số 6 để thành lập Xí nghiệp Dược phẩm Trung ương 26 (OPC). Dù xí nghiệp trực thuộc viện do chú Năm Xuân phụ trách hay sau này tách ra trực thuộc Bộ Y tế, chú vẫn luôn quan tâm theo dõi từng bước đi của xí nghiệp. Những ý tưởng của chú về thừa kế và phát huy Đông dược đã được chúng tôi triển khai có hiệu quả cho đến ngày nay. Và tôi lại một lần nữa tự vấn: “Nếu có ai đó có ý tưởng dựng tượng người này, người khác ở OPC, tôi nghĩ không ai xứng đáng hơn là giáo sư – lương y Lê Minh Xuân”.

Mới đó mà đã gần 40 năm. Theo quy luật của tạo hóa, Khoa Dược của chúng tôi đã có “kẻ ở, người đi” và những người đang đợi “đến lượt mình”, thì đa số giờ này cũng đã thành ông bà nội ngoại, vậy nhưng hằng năm, cứ đến ngày 20/6 âm lịch – ngày giỗ chú Năm Xuân lại quây quần quanh mộ chú, thắp nén nhang để tưởng nhớ về người thủ trưởng, người thầy kính yêu và để tự hứa với lòng mình: Hãy sống xứng đáng với những ngày đã sống trong chiến tranh.

            (Trích hồi ký Những tháng năm nhớ mãi)

Lê Minh Điểm


Ý kiến của bạn