Mang ba lô về Khoa Dược, tôi được bố trí ở cùng nhà với dược sĩ Trương Đình Xuân, là bạn học cùng khóa, cùng đi B một đoàn, nhưng vào đây trước tôi ba tháng. Sáng hôm sau, tôi trình diện chú Năm Xuân.
Phải nói rằng, trong cuộc đời, tôi có may mắn là gặp được nhiều thầy hiền, bạn tốt và thủ trưởng đức độ, tài ba. Nhưng có lẽ chú Năm Xuân là người đầu tiên đã có ảnh hưởng lớn lao đến cuộc đời tôi. Tôi coi chú như một người thầy, người cha kính mến. Chú cũng coi tôi như một người con, người học trò yêu. Không biết có thủ trưởng nào cưng lính như chú cưng tôi. Và cũng không biết có thủ trưởng nào mắng lính nhiều như chú mắng tôi. Thời gian đầu bị chú mắng oan, đêm về tôi chỉ biết khóc. Riết rồi quen. Chú mắng vì chú lo cho công việc chứ không ghét bỏ một ai.
Khoa Dược chúng tôi có 15 người nhưng phải đảm nhiệm sản xuất cả Đông y và Tây y. Dược liệu, một phần móc nối ở cửa khẩu để mua, phần lớn là dựa vào rừng. Khai thác dược liệu từ rừng, anh chị em chúng tôi phải đối mặt với bom đạn, biệt kích và nhiều hiểm nguy khác. Vì vậy, viên thuốc làm ra thấm đẫm cả máu và mồ hôi. Sản xuất Đông dược đa số là phải nấu cao và sấy thuốc bằng phương pháp cách thủy. Tất cả phải dùng đến lửa. Ở chiến trường, một nguyên tắc đặt ra là ban ngày không được có khói, ban đêm không được có ánh sáng để đề phòng máy bay địch. Vì vậy, thuốc làm ra nhiều mẻ bị mốc. Mọi người có “sáng kiến” lấy vải màn (nhiều lớp) thấm cồn trải lên sàng rồi cho từng viên thuốc mới chớm mốc lên, lắc đều để vải màn có cồn lau đi những vệt mốc, sau đó sấy lại. Những viên thuốc ấy lại trông gần như mới. Chú Năm Xuân phát hiện ra, gọi tôi lên và nghiêm khắc nói:
- Cháu à, công lao ba vạn cũng bỏ. Thuốc đã bị mốc, không những bệnh nhân không lành bệnh mà còn phát sinh nhiều bệnh mới.
Tôi toát mồ hôi. Dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù khó khăn đến đâu, chú Năm luôn yêu cầu người thầy thuốc phải đặt chất lượng sản phẩm lên hàng đầu. Bài học này đã theo tôi suốt cuộc đời làm thuốc sau này. Càng sống và làm việc dưới quyền giáo sư - lương y Lê Minh Xuân, tôi càng phát hiện ra ở chú nhiều phẩm chất cao quý mà lớp trẻ chúng tôi phải noi theo.
Trong các khu rừng ở Đông Nam Bộ, cây thuốc hà thủ ô trắng có tác dụng bổ máu và làm đen tóc. Các hoạt chất trong hà thủ ô rất kỵ với kim loại. Vì vậy, cứ mỗi lần đi khai thác, chúng tôi đều dùng gỗ hoặc tre vót nhọn để làm dụng cụ đào bới. Sau khi rửa sạch củ hà thủ ô, phải dùng cật tre vát mỏng như lưỡi dao để cạo vỏ. Tiếp đến đập nhỏ dược liệu thành những mảnh vụn, phơi khô và giã lấy bột bằng chày và cối gỗ. Như vậy, từ khâu đầu cho đến khâu gần cuối cùng, hà thủ ô đều không tiếp xúc với kim loại, nhưng phần còn lại của lõi cây và phần thô sau khi tán bột lại phải dùng nồi nhôm để nấu cao. Nỗi băn khoăn của chú Năm lây cả sang tôi. Trong một lần đi tìm dược liệu, anh chị em phát hiện một gia đình Campuchia có chiếc nồi đất rất to. Chúng tôi mua với giá nào họ cũng không bán, chỉ đồng ý đổi hai chiếc nồi nhôm đường kính năm tấc. Có nồi đất để nấu cao, chú Năm phấn khởi lắm. Nhiều lần chú đi đi lại lại, xuýt xoa khen ngợi. Một thời gian sau, chiếc nồi đất bị nứt và trở thành vô dụng. Anh em trong khoa bàn nhau giấu biệt sự việc trên vì sợ chú Năm buồn. Chiếc nồi đất vẫn ở yên vị trí như để khẳng định sự tồn tại của nó, nhưng việc nấu cao lại phải dùng nồi nhôm. Biết tính chú, không chiều theo ý của anh em, tôi lên gặp chú và nói rõ sự thật. Nghe xong, chú Năm lặng đi rất lâu như vừa tiếc nuối, như vừa cảm thấy bất lực, rồi vỗ nhẹ vào tai tôi, hạ giọng:
- Thôi cháu, sự đã rồi. Cháu cũng đừng rầy la anh em tội nghiệp.
Tôi rơm rớm nước mắt. Không phải chỉ mình tôi, chú Năm luôn thương yêu và tôn trọng tất cả mọi người.
Chú Năm không những là thầy thuốc Đông y giỏi mà còn là một người nội trợ tài ba, biết chế biến nhiều món ăn cả ba miền, nào tương chao, mắm muối, bánh da lợn, bánh bột lọc…
Năm 1973, máy bay ngụy quyền Sài Gòn ném bom vào bệnh viện, bệnh nhân an toàn, nhưng đã làm chết một con trâu. Chú Năm gọi tôi:
- Cháu ra đó lấy ngay bộ gan trâu mang về làm thuốc phi-la-tốp.
Tôi chưng hửng hỏi lại:
- Chúng ta có tủ lạnh đâu chú?
Điều chế phi-la-tốp thực chất là điều chế thuốc Tây y. Những người làm trong ngành dược đều biết rằng, trong điều kiện không phù hợp, bản thân sinh vật (động vật và thực vật) sẽ sản sinh ra một chất gọi là “kích phát sinh tố”. Chế phẩm phi-la-tốp thu được từ đó. Nhưng làm sao để đưa bộ gan trâu về với nhiệt độ thích hợp được? Biết tôi lúng túng, chú Năm hướng dẫn:
- Cháu lấy một chiếc xô, cho bộ gan vào đó, buộc một hòn đá nặng theo xô, rồi thả xuống cái giếng sâu nhất trong rừng, chúng ta có thể đưa bộ gan về nhiệt độ thích hợp.
Tôi đã chọn một cái giếng sâu nhất để làm theo ý chú. Tuy thế, đến ngày thứ ba thì ruồi đến đậu đen đặc trên miệng giếng. Như thế nghĩa là bộ gan đã phân hủy và bốc mùi. Ý đồ chế phi-la-tốp không thực hiện được nữa. Chú Năm lại khoát tay:
- Như vậy là giếng của cháu chưa đủ độ sâu để có nhiệt độ mong muốn. Thôi hãy kéo lên, mang về làm nước mắm.
Chú Năm Xuân có hiểu biết khá rộng về Đông y lẫn Tây y cùng với kỹ thuật chế biến thực phẩm. Chú sẵn sàng vứt bỏ những sản phẩm kém chất lượng vì sức khỏe của người bệnh, nhưng lại biết cách tận dụng bất cứ nguyên vật liệu nào để tạo ra sản phẩm mới cho con người. Đức tính quý giá đó của chú là những bài học để đời cho lớp cán bộ trẻ chúng tôi.
![]() Giáo sư, lương y Lê Minh Xuân và tác giả (bên phải ảnh). |
Một lần, chú Năm Xuân phải nhập viện. Cùng nhập viện với chú Năm còn có một đồng chí khác từ Trung ương Cục chuyển sang. Vì vậy tôi lại phải pha chế dịch truyền. Cũng như bao lần trước, sau khi pha chế xong tôi để cho y sĩ Hải truyền thử cho mình. Truyền hết 10ml đầu tiên, người tôi vẫn bình thường. Tôi bảo Hải: “Cho anh thêm 10ml nữa”. Chưa kịp truyền tiếp 10ml thứ hai thì tôi cảm thấy người ớn lạnh, rùng mình. Tôi kêu lên:
- Chú Hải ơi, có lẽ anh bị sốc thuốc!
6 tháng bị sốt rét, truyền bao nhiêu là huyết thanh, nhưng tôi chưa một lần bị sốc. Thế mà lần này… Hải vừa rút kim ra thì người tôi co cứng lại. Đặc biệt là các cơ vòng.
Từ đó trở đi, cứ mỗi lần pha chế dịch truyền, theo chỉ thị của chú Năm Xuân, tổ Đảng phải đứng ra phân công người thử. Nhưng phân công là phân công thế thôi, tôi là Trưởng khoa, là con trai, lại trẻ tuổi và dù sao cũng còn thuộc loại khỏe mạnh nhất nên hầu hết số lần thử tôi lại đứng ra đảm nhận.
Ở cuộc họp chi bộ xét kết nạp đảng viên lần đó, sau khi nghe đọc lý lịch của Nguyễn Thị Thanh Bình, nhìn ra ngoài, tôi thấy cậu giao liên của chú Năm thập thò trước lán. Tôi nói nhỏ với chú Năm:
- Chắc chú có khách.
Chú trả lời:
- Tao sẽ phát biểu trước khi rời phòng họp, mày yên tâm đi.
Bằng giọng sôi nổi khác thường, chú Năm phát biểu một mạch về ý nghĩa của công tác phát triển Đảng, định hướng cho chi bộ luôn sẵn sàng đưa những người ưu tú trong quần chúng, không phân biệt Bắc Nam, tuổi tác, nam nữ vào Đảng nhằm tăng cường sức chiến đấu của Đảng. Về trường hợp Nguyễn Thị Thanh Bình, chú khẳng định sự phấn đấu liên tục bền bỉ, lập trường kiên định và ý thức trách nhiệm trong công tác được giao của cô. Cuối cùng chú nói:
- Khi chi bộ lấy biểu quyết, xin ghi nhận một phiếu tán thành của tôi.
Chú Năm đi rồi, cuộc họp vẫn kéo dài khá lâu vì vẫn còn có ý kiến dùng dằng nói lui nói tới. Nhưng cuối cùng, khi chi bộ biểu quyết, chị Bình cũng được quá bán số phiếu tán thành.
Thế rồi, chờ đợi một tháng, hai tháng, rồi ba tháng… vẫn không thấy quyết định kết nạp của Đảng ủy cấp trên. Tôi hỏi một anh bạn là Bí thư Đoàn Thanh niên nhân dân cách mạng Ban Dân y, đồng thời có chân trong Đảng ủy, anh cho biết:
- Về trường hợp Nguyễn Thị Thanh Bình, không thấy Chi ủy C7 gửi hồ sơ lên đây.
Té ra là như vậy?!
Tôi thuật lại chuyện ấy cho chú Năm nghe, chú giận lắm. Chú cho mời chú Ba D, Bí thư chi bộ đồng thời là cấp phó của mình. Từ bìa rừng, tôi nghe tiếng nói có phần gay gắt của chú Năm:
- Các đồng chí có kiểu làm ăn gì lạ vậy? Nếu nơi nào cũng có những biểu hiện cục bộ, bè phái như vậy thì làm sao chúng ta thắng được Mỹ?
Cũng xin nói thêm, anh em chúng tôi cũng có nhiều người biết được quá khứ của chú Năm. Chú vào Đảng từ năm 1930 và hai người giới thiệu chú là hai nhân vật đã đi vào lịch sử, đó là Võ Văn Tần và Nguyễn Thị Nhỏ. Hơn nữa, trong chống Pháp, chú từng là Trưởng ty Công an tỉnh Long An. Chú hoàn toàn có quyền nói như trên với người phó của mình, vì chú nói như trải cả gan ruột cho tất thảy mọi người.
Khoảng một tháng sau, chị Bình có quyết định kết nạp Đảng. Trước hôm làm lễ kết nạp, biết được ít nhiều tâm tư của chị, tôi dặn:
- Trong buổi lễ, có phát biểu cảm tưởng, chị phải nói sao cho những người sau mình còn tiếp tục hăng hái phấn đấu, đừng làm cho người ta nhụt chí.
Tại buổi lễ, đến giờ phát biểu cảm tưởng, hình như lời dặn của tôi vẫn văng vẳng bên tai, chị đứng lặng vài phút. Rồi bất ngờ chị òa khóc nức nở.
Cả hội trường im phăng phắc. Sau khi quệt nước mắt, chị nói một thôi một hồi về những đè nén mà bấy lâu chị phải chịu đựng. Một đảng viên trong chi hội, ông Bảy Hà, cháu ruột của chú Năm Xuân phát biểu:
- Tôi đã dự không biết bao buổi lễ kết nạp đảng viên, có đồng chí khóc, nhưng đó là những giọt nước mắt sung sướng, tự hào, đằng này lại là những giọt nước mắt uất ức! Quả thật, nếu suy nghĩ nghiêm túc thì trong chi bộ ta không phải là không có vấn đề.
Đúng như nhận xét của anh Bảy Hà, có thể ở nơi này nơi kia còn có những biểu hiện cục bộ địa phương hoặc bè phái, mất đoàn kết, nhưng đối với chú Năm Xuân thì chuyện đó không bao giờ được xảy ra.
Nhiều lúc tôi tự hỏi: Có khi nào, có ai đó có suy nghĩ nên đổi tên Viện Y dược học cổ truyền TP. Hồ Chí Minh thành Viện Y dược học cổ truyền Lê Minh Xuân – người suốt đời phấn đấu vì sự nghiệp y dược học dân tộc, người đặt nền móng xây dựng viện và mạng lưới y dược học cổ truyền TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam?
Mới đó mà đã gần 40 năm. Theo quy luật của tạo hóa, Khoa Dược của chúng tôi đã có “kẻ ở, người đi” và những người đang đợi “đến lượt mình”, thì đa số giờ này cũng đã thành ông bà nội ngoại, vậy nhưng hằng năm, cứ đến ngày 20/6 âm lịch – ngày giỗ chú Năm Xuân lại quây quần quanh mộ chú, thắp nén nhang để tưởng nhớ về người thủ trưởng, người thầy kính yêu và để tự hứa với lòng mình: Hãy sống xứng đáng với những ngày đã sống trong chiến tranh.
(Trích hồi ký Những tháng năm nhớ mãi)
Lê Minh Điểm
